| Hệ | Met |
|---|---|
| Size Ren | M16 |
| Chiều Dài Bulong | 110 mm |
| Vật Liệu | Thép đen 10.9 |
| Bước Ren | 2.0 mm |
| Chiều Cao Đầu | 10 mm |
| Size Khóa | 24 mm |
| Loại Ren | Ren Thô |
| Phân Bố Ren | Ren Lửng |
| Tiêu Chuẩn | DIN 931 |
| Cường Độ Chịu Tải | ISO Class 10.9 |
Bulong Lục giác thép đen 10.9 M16x110 DIN 931 – Ren lửng
Vật liệu : Thép đen 10.9
Đơn vị tính : Con ( PCS )
Hoá đơn : Có xuất hoá đơn VAT
Chất lượng : Có đầy đủ giấy tờ CO CQ
Bu lông lục giác thép đen 10.9 M16x110 DIN 931 ren lửng có 72 mm thân trơn, đủ dài để xuyên qua những cụm ghép nhiều lớp. Đây là nhóm chiều dài hay gặp ở chân cột, bệ máy và các mối nối phải đi qua cả tấm đệm lẫn lớp căn chỉnh.
Cụm nhiều lớp khác cụm hai tấm ở chỗ nào
Với hai tấm, chỉ có một mặt phân cách và mọi thứ đơn giản. Với bốn năm lớp, có nhiều mặt phân cách, và mỗi mặt là một chỗ có thể trượt, có thể lún, có thể hở.
Điều quan trọng cần xác định là mặt nào chịu lực ngang thật sự. Đó là mặt phải nằm trong đoạn thân trơn 72 mm. Các mặt còn lại chỉ cần kín và ép đủ.
Sai lầm thường gặp là cộng hết chiều dày các lớp rồi chọn bu lông theo tổng, mà không xem mặt chịu lực nằm ở đâu. Nếu mặt đó rơi vào vùng ren thì bu lông dài vẫn không cứu được mối ghép.
Lún tích luỹ: kẻ thù của cụm nhiều lớp
Mỗi mặt phân cách đều lún một chút khi chịu áp lực. Lớp sơn lún, gỉ bám lún, vết gia công không phẳng bị ép bẹt. Riêng từng cái chỉ vài phần trăm milimet, nhưng bốn năm mặt cộng lại có thể tới vài phần mười milimet.
Với bu lông M16, mất 0,1 mm độ giãn tương đương mất khoảng một phần năm lực kẹp. Đây là lý do cụm nhiều lớp gần như luôn cần siết lại sau vài giờ vận hành đầu tiên, và là lý do nên hạn chế số lớp khi thiết kế cho phép.
Bu lông dài có lợi ở điểm này: 110 mm giãn nhiều hơn 60 mm dưới cùng lực kẹp, nên cùng một lượng lún tuyệt đối sẽ lấy đi tỉ lệ lực kẹp nhỏ hơn. Chọn bu lông dài hơn mức tối thiểu là một cách chống mất lực kẹp, miễn là chiều dày kẹp vẫn nằm trong dải cho phép.
Chân cột và bệ máy
Ở chân cột thép, cụm thường gồm bản đế, lớp vữa rót không co, và bê tông móng. Bu lông neo là chi tiết riêng, còn M16x110 hay được dùng cho các liên kết phụ quanh chân cột: bắt sườn gia cường, cố định tấm chắn, liên kết dầm sàn với bản đế.
Điểm cần chú ý là lớp vữa rót. Vữa chưa đủ tuổi sẽ tiếp tục co và lún dưới áp lực bu lông, làm mất lực kẹp trong nhiều tuần. Không nên siết đạt lực kẹp thiết kế trước khi vữa đạt cường độ, và nên có một lượt siết kiểm tra sau đó.
Với bệ máy có tấm đệm cao su chống rung, tình huống ngược lại: đệm đàn hồi lún nhiều và liên tục. Trường hợp này phải dùng bu lông có chiều dài đàn hồi lớn hoặc bổ sung long đền đĩa, và lịch siết lại phải thành quy trình bảo trì định kỳ.
Thông số cỡ 110 mm
| Chiều dài thân | 110 mm |
| Đoạn thân trơn | 72 mm |
| Chiều dài ren b | 38 mm |
| Chiều dày kẹp khuyến nghị | 72 – 90 mm |
| Mô-men khô | 300 – 340 Nm |
Lưu ý dải kẹp bắt đầu từ 72 mm. Cụm mỏng hơn thì đai ốc chạy lên thân trơn và không siết được, dù bu lông nhìn có vẻ thừa chiều dài.
Câu hỏi thường gặp
Cụm bốn lớp thì tính chiều dày kẹp thế nào? Cộng toàn bộ chiều dày các lớp cộng long đền. Sau đó kiểm tra mặt chịu lực ngang có nằm trong đoạn thân trơn không.
Bao lâu thì siết lại? Với cụm nhiều lớp, nên siết lại sau vài giờ vận hành đầu và kiểm tra lại sau khoảng một tháng.
Bu lông dài hơn mức cần có hại không? Không, miễn chiều dày cụm vẫn trong dải cho phép. Bu lông dài còn giữ lực kẹp ổn định hơn.
Thứ tự xếp lớp ảnh hưởng tới lực kẹp
Trong cụm nhiều lớp, nên đặt các lớp cứng ở hai đầu, sát đầu bu lông và sát đai ốc, còn lớp mềm nằm giữa. Lý do là áp suất tiếp xúc cao nhất nằm ngay dưới đầu bu lông và dưới đai ốc; đặt vật liệu mềm ở đó sẽ lún nhiều nhất.
Nếu buộc phải để lớp mềm tiếp xúc trực tiếp với đai ốc, hãy dùng long đền bản dày DIN 7349 để trải lực ra diện tích lớn hơn. Chênh lệch giữa long đền mỏng và bản dày trong trường hợp này rất đáng kể.
Một chi tiết hay bị bỏ qua: nếu trong cụm có tấm sơn dày, lớp sơn nên được cạo ở vùng quanh lỗ bắt. Diện tích cạo chỉ cần rộng hơn long đền một chút, nhưng nó loại bỏ nguồn lún lớn nhất.
Gioăng và vật liệu mềm xen giữa
Gioăng là trường hợp đặc biệt vì nó được thiết kế để lún. Vấn đề là gioăng lún theo thời gian chứ không lún hết ngay, và tốc độ lún phụ thuộc nhiệt độ lẫn áp suất.
Với cụm có gioăng, quy trình siết phải có ít nhất hai lượt cách nhau: lượt đầu khi lắp, lượt hai sau khi thiết bị chạy ổn định vài giờ. Với gioăng dày hoặc vật liệu đàn hồi cao, cần thêm lượt thứ ba sau khoảng một tuần.
Không nên bù lún bằng cách siết vượt mô-men ngay từ đầu. Cách đó đưa bu lông tới gần giới hạn chảy và không còn dự trữ cho tải vận hành.
Quy trình lắp cụm nhiều lớp
Bước một, xếp thử toàn bộ các lớp và đo tổng chiều dày thực tế tại vị trí từng bu lông. Số đo này thường khác con số cộng trên bản vẽ, và chính nó quyết định chọn chiều dài nào.
Bước hai, kiểm tra mặt chịu lực ngang nằm ở đâu trong chồng lớp, đối chiếu với đoạn thân trơn 72 mm của cỡ 110 mm.
Bước ba, luồn toàn bộ bu lông và vặn đai ốc bằng tay trước khi siết bất kỳ con nào. Việc này cho phép cụm tự căn chỉnh; nếu siết chặt một con trước thì các lỗ còn lại có thể lệch đi và không luồn được.
Bước bốn, siết ba lượt tăng dần theo sơ đồ chéo. Bước năm, ghi lại ngày lắp và mô-men áp dụng, rồi hẹn lịch siết lại.
Sản phẩm liên quan
20.713 ₫/ Con
Số lượng đặt hàng tối thiểu: 100

Chưa có đánh giá nào.