| Hệ | Met |
|---|---|
| Size Ren | M16 |
| Chiều Dài Bulong | 95 mm |
| Vật Liệu | Thép đen 10.9 |
| Bước Ren | 2.0 mm |
| Chiều Cao Đầu | 10 mm |
| Size Khóa | 24 mm |
| Loại Ren | Ren Thô |
| Phân Bố Ren | Ren Lửng |
| Tiêu Chuẩn | DIN 931 |
| Cường Độ Chịu Tải | ISO Class 10.9 |
Bulong Lục giác thép đen 10.9 M16x95 DIN 931 – Ren lửng
Vật liệu : Thép đen 10.9
Đơn vị tính : Con ( PCS )
Hoá đơn : Có xuất hoá đơn VAT
Chất lượng : Có đầy đủ giấy tờ CO CQ
Bu lông lục giác thép đen 10.9 M16x95 DIN 931 ren lửng được siết ở nhiệt độ phòng, nhưng phần lớn mối ghép công nghiệp không làm việc ở nhiệt độ phòng. Lực kẹp đặt vào lúc lắp và lực kẹp còn lại lúc vận hành là hai con số khác nhau.
Giới hạn nhiệt độ của cấp 10.9
Thép hợp kim tôi ram của bu lông cấp 10.9 giữ được cơ tính danh nghĩa trong khoảng nhiệt độ làm việc thông thường, xấp xỉ từ âm 50 đến khoảng 150 độ C. Vượt ngưỡng trên, giới hạn chảy bắt đầu giảm và hiện tượng chùng ứng suất theo thời gian trở nên đáng kể.
Chùng ứng suất nghĩa là bu lông vẫn giữ nguyên độ giãn nhưng lực trong nó giảm dần, vì vật liệu bò ở nhiệt độ cao. Mối ghép không lỏng ra về mặt hình học nhưng mất lực kẹp. Đây là kiểu mất lực khó phát hiện nhất vì nhìn bên ngoài không thấy gì thay đổi.
Với vị trí làm việc thường xuyên trên 150 độ C, cần chọn vật liệu bu lông chuyên dụng chịu nhiệt chứ không dùng cấp 10.9 thông thường, và phải tra theo tiêu chuẩn thiết bị áp dụng.
Khi bu lông và tấm ghép giãn nở khác nhau
Nếu bu lông thép bắt trên tấm thép, cả hai giãn nở gần như bằng nhau nên lực kẹp thay đổi ít. Vấn đề phát sinh khi vật liệu khác nhau.
| Vật liệu | Hệ số giãn nở | Ảnh hưởng khi nóng lên |
| Thép cacbon | khoảng 12 | chuẩn tham chiếu |
| Thép không gỉ | khoảng 16 – 17 | tấm giãn nhiều hơn bu lông, lực kẹp tăng |
| Nhôm | khoảng 23 | tấm giãn mạnh, nguy cơ vượt giới hạn chảy |
| Gang | khoảng 10 – 11 | tấm giãn ít hơn, lực kẹp giảm |
Đơn vị là phần triệu trên mỗi độ C. Đọc bảng theo hướng thực dụng: bắt bu lông thép lên cụm nhôm rồi cho chạy nóng là công thức làm bu lông quá tải, vì nhôm giãn gần gấp đôi thép và ép ngược vào bu lông. Ngược lại, cụm gang nguội đi có thể làm lực kẹp tụt xuống dưới mức thiết kế.
Cách xử lý mối ghép có chênh nhiệt
Giải pháp phổ biến nhất là tăng chiều dài đàn hồi của bu lông. Bu lông càng dài thì cùng một chênh lệch giãn nở sẽ gây thay đổi lực kẹp càng nhỏ, vì độ giãn tổng lớn hơn. Đây là lý do kỹ thuật để chọn cỡ 95 mm thay vì cỡ ngắn khi cụm ghép có chu kỳ nhiệt, ngay cả khi chiều dày cụm cho phép dùng bu lông ngắn hơn.
Giải pháp thứ hai là dùng long đền đĩa đàn hồi loại chịu lực cao, đóng vai trò lò xo bù giãn nở. Loại này khác hẳn long đền vênh thông thường và phải chọn theo lực kẹp làm việc.
Giải pháp thứ ba là siết lại sau chu kỳ nhiệt đầu tiên, khi cụm đã ổn định.
Thông số cỡ 95 mm
| Chiều dài thân | 95 mm |
| Đoạn thân trơn | 57 mm |
| Chiều dài ren b | 38 mm |
| Dải nhiệt độ làm việc | khoảng âm 50 đến 150 độ C |
| Chiều dày kẹp khuyến nghị | 57 – 75 mm |
Câu hỏi thường gặp
Bu lông 10.9 dùng được tới bao nhiêu độ? Thông thường tới khoảng 150 độ C cho vận hành liên tục. Cao hơn cần vật liệu chuyên dụng và tra theo tiêu chuẩn thiết bị.
Vì sao chọn bu lông dài hơn lại tốt cho mối ghép nóng? Vì bu lông dài giãn nhiều hơn dưới cùng lực kẹp, nên chênh lệch giãn nở do nhiệt chiếm tỉ lệ nhỏ hơn và lực kẹp ổn định hơn.
Mối ghép nguội dưới 0 độ có vấn đề gì không? Cấp 10.9 vẫn làm việc tới khoảng âm 50 độ C. Dưới ngưỡng đó cần vật liệu chịu lạnh chuyên dụng.
Chu kỳ nhiệt lặp lại và hiện tượng nới lỏng dần
Một lần nóng lên rồi nguội đi thường không gây hại. Vấn đề nằm ở chỗ lặp lại hàng nghìn lần. Mỗi chu kỳ, chênh lệch giãn nở làm hai mặt tiếp xúc trượt tương đối với nhau một lượng cực nhỏ. Lượng trượt ấy mài mòn bề mặt, và sau nhiều chu kỳ thì bề mặt lún đi thật sự.
Đây là cơ chế nới lỏng khác hẳn với đai ốc tự xoay. Đai ốc không hề xoay, vạch sơn đánh dấu vẫn thẳng hàng, nhưng lực kẹp đã giảm vì chiều dày cụm giảm. Kiểm tra bằng mắt sẽ không phát hiện được, chỉ đo mới biết.
Với cụm có chu kỳ nhiệt rõ rệt, nên đưa việc kiểm tra lực kẹp vào lịch bảo trì thay vì chỉ nhìn vạch sơn, và nên chọn bu lông dài hơn mức tối thiểu để tăng dự trữ đàn hồi.
Mối ghép ngoài trời: chênh nhiệt ngày đêm
Nhiều người chỉ nghĩ tới nhiệt độ khi có thiết bị sinh nhiệt. Nhưng kết cấu thép ngoài trời ở Việt Nam có thể chênh 30 đến 40 độ C giữa trưa nắng và rạng sáng, và mặt thép phơi nắng trực tiếp còn nóng hơn nhiệt độ không khí đáng kể.
Với cụm toàn thép, chênh lệch này ít ảnh hưởng vì bu lông và tấm giãn như nhau. Nhưng nếu cụm có tấm nhựa, gỗ hoặc vật liệu cách nhiệt xen giữa, chu kỳ ngày đêm sẽ nén và nhả lớp đó liên tục. Sau vài mùa, lớp vật liệu mềm lún hẳn và lực kẹp mất phần lớn.
Giải pháp là dùng long đền đĩa đàn hồi để bù, hoặc thay vật liệu mềm bằng loại có độ ổn định cao hơn, hoặc đưa việc siết lại vào lịch bảo trì theo mùa.
Khi cụm vừa nóng vừa rung
Đây là điều kiện khắc nghiệt nhất với mối ghép bu lông, thường gặp ở bệ động cơ, quạt công nghiệp, máy nghiền. Nhiệt làm chùng ứng suất, rung làm nới lỏng, hai cơ chế cộng hưởng với nhau.
Với trường hợp này, ba biện pháp nên dùng đồng thời: chọn chiều dài bu lông lớn để tăng dự trữ đàn hồi, dùng long đền khoá kiểu nêm thay vì trông chờ vào ma sát ren, và lập lịch kiểm tra dày hơn bình thường, thường là hàng quý.
Keo khoá ren cần cân nhắc thêm ở đây: phần lớn keo thông dụng có giới hạn nhiệt khoảng 150 độ C và sẽ mất tác dụng nếu vượt ngưỡng. Phải chọn loại chịu nhiệt phù hợp chứ không dùng loại phổ thông.
Sản phẩm liên quan
18.787 ₫/ Con
Số lượng đặt hàng tối thiểu: 100

Chưa có đánh giá nào.