| Hệ | Met |
|---|---|
| Size Ren | M16 |
| Chiều Dài Bulong | 70 mm |
| Vật Liệu | Thép mạ kẽm 10.9 |
| Bước Ren | 2.0 mm |
| Chiều Cao Đầu | 10 mm |
| Size Khóa | 24 mm |
| Loại Ren | Ren Thô |
| Phân Bố Ren | Ren Lửng |
| Tiêu Chuẩn | DIN 931 |
| Cường Độ Chịu Tải | ISO Class 10.9 |
Bulong Lục giác thép mạ kẽm 10.9 M16x70 DIN 931 – Ren lửng
Vật liệu : Thép mạ kẽm 10.9
Đơn vị tính : Con ( PCS )
Hoá đơn : Có xuất hoá đơn VAT
Chất lượng : Có đầy đủ giấy tờ CO CQ
Bu lông lục giác thép mạ kẽm 10.9 M16x70 DIN 931 ren lửng được siết ở 270 đến 305 Nm, thấp hơn bản thép đen cùng cỡ khoảng một phần mười. Con số chênh lệch ấy không phải làm tròn cho tiện, nó có nguyên nhân vật lý và bỏ qua nó là cách nhanh nhất để làm hỏng một mối ghép.
Lớp kẽm làm giảm ma sát
Mô-men siết phần lớn bị tiêu hao để thắng ma sát, chỉ khoảng một phần mười biến thành lực kẹp. Vì vậy bất cứ thứ gì làm thay đổi ma sát đều làm thay đổi quan hệ giữa mô-men và lực kẹp.
Kẽm là kim loại mềm, có tính bôi trơn nhẹ. Bề mặt mạ kẽm cho hệ số ma sát thấp hơn bề mặt thép đen phủ dầu. Nghĩa là với cùng một mô-men, bu lông mạ kẽm nhận được lực kẹp lớn hơn.
Đây là lý do bảng mô-men của bản mạ kẽm thấp hơn: để đạt cùng lực kẹp mục tiêu 110 đến 125 kN, cần ít mô-men hơn. Không phải bu lông mạ kẽm yếu hơn, mà là nó nhận lực hiệu quả hơn.
Điều gì xảy ra khi dùng nhầm bảng
Giả sử người siết lấy con số 300 đến 340 Nm của bản thép đen áp cho bu lông mạ kẽm. Với ma sát thấp hơn, lực kẹp thực tế sẽ vượt mức mục tiêu đáng kể và có thể chạm hoặc vượt giới hạn chảy của bu lông.
Hậu quả không nhất thiết là gãy ngay. Bu lông có thể giãn dẻo một chút rồi đứng yên, mối ghép vẫn hoạt động. Nhưng nó đã mất phần dự trữ đàn hồi, và khi có tải vận hành cộng thêm thì không còn biên an toàn.
Trong trường hợp xấu, bu lông đứt ngay trong lúc siết. Đây thực ra là kết cục may mắn hơn vì lỗi được phát hiện tại chỗ thay vì ẩn đi.
Ba tình huống làm ma sát khó đoán
Lớp thụ động khác nhau giữa các lô. Màng thụ động cầu vồng và màng trắng xanh có ma sát hơi khác nhau. Với cụm quan trọng, nên dùng cùng một lô cho toàn bộ cụm.
Bôi trơn thêm. Nếu bôi mỡ lên bu lông vốn đã mạ kẽm, ma sát giảm tiếp và phải hạ mô-men thêm 15 đến 25 phần trăm nữa. Cộng dồn hai lần giảm là mức rất đáng kể.
Keo khoá ren. Keo làm tăng ma sát trong lúc chưa đông và thay đổi hoàn toàn quan hệ mô-men với lực kẹp. Phải theo hướng dẫn của nhà sản xuất keo chứ không dùng bảng thông thường.
So sánh nhanh hai bản bề mặt
| Thép đen | Mạ kẽm | |
| Mô-men khô | 300 – 340 Nm | 270 – 305 Nm |
| Lực kẹp mục tiêu | 110 – 125 kN | 110 – 125 kN |
| Dải cờ lực | 250 – 450 Nm | 220 – 400 Nm |
| Ma sát bề mặt | Cao hơn | Thấp hơn |
Chú ý hàng thứ hai: lực kẹp mục tiêu giống nhau. Đây là điểm cần nhớ, vì nó cho thấy mục đích của việc siết không đổi, chỉ có con đường tới đó là khác.
Thông số cỡ 70 mm
| Chiều dài thân | 70 mm |
| Đoạn thân trơn | 32 mm |
| Chiều dài ren b | 38 mm |
| Chiều dày kẹp khuyến nghị | 32 – 50 mm |
| Mô-men khô | 270 – 305 Nm |
Câu hỏi thường gặp
Vì sao mô-men mạ kẽm thấp hơn thép đen? Vì lớp kẽm cho ma sát thấp hơn, nên cần ít mô-men hơn để đạt cùng lực kẹp.
Dùng nhầm bảng thép đen có sao không? Có. Bu lông sẽ nhận lực kẹp vượt mục tiêu và có thể vượt giới hạn chảy.
Có nên bôi mỡ lên bu lông mạ kẽm không? Chỉ khi có lý do cụ thể, và phải hạ mô-men thêm 15 đến 25 phần trăm. Thông thường không cần vì lớp kẽm đã đủ trơn.
Kiểm chứng quan hệ mô-men và lực kẹp
Bảng mô-men là giá trị trung bình thống kê, còn mối ghép cụ thể của anh có bề mặt cụ thể. Với cụm quan trọng, nên kiểm chứng thay vì tin bảng.
Cách thực tế nhất là dùng cảm biến đo lực kẹp dạng long đền, lắp thay cho long đền thường trên một hai vị trí mẫu. Siết theo mô-men trong bảng rồi đọc lực kẹp thực tế. Nếu lệch nhiều so với 110 đến 125 kN thì điều chỉnh mô-men áp dụng cho toàn cụm.
Cách rẻ hơn là phương pháp góc quay. Siết tới một mô-men mồi thấp để loại bỏ khe hở, đánh dấu vị trí, rồi quay thêm một góc xác định. Góc quay liên hệ trực tiếp với độ giãn của bu lông nên không bị ma sát làm sai lệch. Nhược điểm là phải biết trước góc phù hợp cho từng chiều dày cụm.
Với cụm thông thường, không cần làm những việc này. Nhưng nếu cụm có nhiều bu lông, chịu tải quan trọng, và sẽ khó tiếp cận sau khi hoàn thiện thì một buổi kiểm chứng ban đầu là đáng giá.
Khi cụm trộn lẫn hai loại bề mặt
Tình huống này xảy ra nhiều hơn ta tưởng: hết hàng mạ kẽm giữa chừng nên lấy thép đen bù vào, hoặc thay thế vài con hỏng bằng loại đang có sẵn.
Vấn đề là hai loại cần mô-men khác nhau, chênh khoảng một phần mười. Nếu thợ siết đồng loạt theo một con số, một trong hai nhóm sẽ sai. Siết theo bảng thép đen thì nhóm mạ kẽm quá tải; siết theo bảng mạ kẽm thì nhóm thép đen thiếu lực kẹp.
Lực kẹp không đều trong cùng một cụm còn tệ hơn là đều nhưng hơi thấp, vì các con chịu tải lệch nhau và con chịu nhiều nhất sẽ hỏng trước.
Nguyên tắc nên giữ: một cụm liên kết dùng một loại bề mặt, tốt nhất là cùng một lô. Nếu buộc phải trộn, phải tách nhóm khi siết và ghi rõ trong hồ sơ vị trí nào dùng loại nào.
Sản phẩm liên quan
13.972 ₫/ Con
Số lượng đặt hàng tối thiểu: 36

Chưa có đánh giá nào.