| Hệ | Met |
|---|---|
| Size Ren | M16 |
| Chiều Dài Bulong | 120 mm |
| Vật Liệu | Thép mạ kẽm 10.9 |
| Bước Ren | 2.0 mm |
| Chiều Cao Đầu | 10 mm |
| Size Khóa | 24 mm |
| Loại Ren | Ren Thô |
| Phân Bố Ren | Ren Lửng |
| Tiêu Chuẩn | DIN 931 |
| Cường Độ Chịu Tải | ISO Class 10.9 |
Bulong Lục giác thép mạ kẽm 10.9 M16x120 DIN 931 – Ren lửng
Vật liệu : Thép mạ kẽm 10.9
Đơn vị tính : Con ( PCS )
Hoá đơn : Có xuất hoá đơn VAT
Chất lượng : Có đầy đủ giấy tờ CO CQ
Bu lông lục giác thép mạ kẽm 10.9 M16x120 DIN 931 ren lửng có hai thứ cần kiểm khi nhận hàng: cấp bền của thép và chất lượng của lớp mạ. Phần cấp bền kiểm bằng độ cứng và dấu dập. Phần lớp mạ có bộ phép thử riêng, ít người biết hơn.
Kiểm bằng mắt trước tiên
Bề mặt phải đều màu, không có mảng xám xỉn xen kẽ mảng sáng. Không có điểm rỗ, không có vết chảy hay giọt đọng. Không có vùng nào lộ ánh thép, nhất là ở đỉnh ren và cạnh đầu lục giác vốn là chỗ lớp mạ mỏng nhất.
Kiểm tra trong lòng rãnh ren bằng kính lúp. Đây là vị trí dòng điện khó tới nên lớp mạ mỏng nhất, và cũng là vị trí quan trọng nhất về chống gỉ. Nếu đáy rãnh ren thấy ánh thép thì lớp mạ không đạt.
Kiểm tính đồng nhất trong thùng: nhiều màu khác nhau rõ rệt là dấu hiệu hàng gom từ nhiều lô.
Đo độ dày lớp phủ
Có thiết bị đo độ dày lớp phủ không phá huỷ, hoạt động theo nguyên lý từ tính, cho kết quả trong vài giây. Đây là phép đo nên có nếu đơn vị thường xuyên nhập hàng mạ.
Cách đo đúng là đo ở nhiều vị trí trên cùng một con và trên nhiều con trong lô, vì lớp mạ không đều tuyệt đối. Nên đo ở thân trơn, ở mặt đầu lục giác và ở vùng gần chân ren, rồi lấy giá trị nhỏ nhất làm căn cứ đánh giá chứ không lấy trung bình.
Với mạ điện phân thông dụng, giá trị mong đợi là 8 đến 12 micromet. Dưới 5 micromet thì khả năng chống gỉ giảm rõ rệt so với kỳ vọng.
Thử độ bám dính
Lớp mạ dày mà bám kém thì vô nghĩa, vì nó sẽ bong ra trong lúc vận chuyển hoặc lắp đặt. Có hai phép thử đơn giản làm được trên mẫu.
Phép thử uốn hoặc gõ: dùng trên mẫu đại diện, quan sát xem lớp mạ có bong thành vảy không. Lớp bám tốt sẽ biến dạng theo nền chứ không tách ra.
Phép thử dán băng keo: dán băng keo chuyên dụng lên bề mặt rồi bóc dứt khoát. Nếu lớp mạ bám kém, sẽ thấy vết kẽm trên mặt keo.
Cả hai đều là phép thử phá huỷ hoặc bán phá huỷ, nên làm trên vài con mẫu chứ không làm trên toàn bộ lô.
Hồ sơ cần yêu cầu
Ngoài chứng nhận cơ tính của thép, với hàng mạ nên yêu cầu thêm ba thông tin: độ dày lớp phủ danh nghĩa, loại lớp thụ động, và xác nhận đã khử hydro sau mạ kèm thông số nhiệt độ, thời gian.
Mục cuối là quan trọng nhất với cấp bền 10.9 và cũng là mục hay thiếu nhất. Nếu nhà cung cấp không cung cấp được, đó là tín hiệu đáng cân nhắc về việc có nên dùng lô hàng cho vị trí chịu lực quan trọng hay không.
Thông số cỡ 120 mm
| Chiều dài thân | 120 mm |
| Đoạn thân trơn | 82 mm |
| Chiều dài ren b | 38 mm |
| Độ dày lớp mạ mong đợi | 8 – 12 micromet |
| Độ cứng thép | 32 – 39 HRC |
| Chiều dày kẹp khuyến nghị | 82 – 100 mm |
Câu hỏi thường gặp
Đo độ dày lớp mạ ở đâu là chuẩn? Đo nhiều vị trí và lấy giá trị nhỏ nhất, vì chỗ mỏng nhất quyết định tuổi thọ.
Không có máy đo thì làm sao? Kiểm bằng mắt kỹ lưỡng, nhất là đáy rãnh ren, cộng với yêu cầu hồ sơ đầy đủ từ nhà cung cấp.
Lớp mạ bong khi gõ nhẹ có nghiêm trọng không? Có. Đó là dấu hiệu xử lý bề mặt trước khi mạ không đạt, và lô hàng nên bị từ chối.
Kiểm bao nhiêu con là đủ
Kiểm toàn bộ là không thực tế với lô hàng nghìn con, còn kiểm một con thì không nói lên điều gì. Nguyên tắc chung là cỡ mẫu tăng theo căn của cỡ lô chứ không tăng tuyến tính.
| Cỡ lô | Số con kiểm bằng mắt | Số con đo độ dày lớp phủ |
| Dưới 100 | khoảng 8 | 3 |
| 100 – 500 | khoảng 20 | 5 |
| 500 – 3000 | khoảng 32 | 8 |
| Trên 3000 | khoảng 50 | 13 |
Các con số là khung tham khảo dựa trên thông lệ lấy mẫu kiểm tra. Nếu công trình có quy định riêng về nghiệm thu vật tư thì theo quy định đó.
Điểm quan trọng hơn cỡ mẫu là cách lấy mẫu: phải lấy rải rác từ nhiều thùng và nhiều vị trí trong thùng, không lấy hết từ lớp trên cùng của một thùng. Hàng ở đáy thùng và hàng ở trên cùng có thể khác nhau về tình trạng bảo quản.
Khi lô hàng không đạt
Trước hết phải phân biệt lỗi hệ thống với lỗi ngẫu nhiên. Nếu tất cả các con kiểm đều mỏng lớp mạ thì đó là lỗi quy trình mạ, cả lô có vấn đề. Nếu chỉ vài con trong mẫu bị xước hoặc gỉ trắng thì nhiều khả năng là lỗi bảo quản, vận chuyển và có thể sàng lọc.
Với lỗi hệ thống, phương án đúng là trả lô. Không nên nhận rồi tự xử lý bằng sơn phủ, vì chi phí xử lý một lô lớn cao hơn nhiều so với chênh lệch giá, và kết quả không đồng đều.
Với lỗi ngẫu nhiên tỉ lệ thấp, có thể nhận và sàng lọc, nhưng cần thoả thuận rõ ai chịu chi phí sàng lọc và tỉ lệ hao hụt.
Trong mọi trường hợp, hãy ghi biên bản kèm ảnh và giữ lại các con mẫu không đạt. Đây là căn cứ để làm việc với nhà cung cấp, và cũng là dữ liệu cho lần đặt hàng sau.
Sản phẩm liên quan
21.676 ₫/ Con
Số lượng đặt hàng tối thiểu: 4

Chưa có đánh giá nào.