| Hệ | Met |
|---|---|
| Size Ren | M16 |
| Chiều Dài Bulong | 110 mm |
| Vật Liệu | Thép mạ kẽm 10.9 |
| Bước Ren | 2.0 mm |
| Chiều Cao Đầu | 10 mm |
| Size Khóa | 24 mm |
| Loại Ren | Ren Thô |
| Phân Bố Ren | Ren Lửng |
| Tiêu Chuẩn | DIN 931 |
| Cường Độ Chịu Tải | ISO Class 10.9 |
Bulong Lục giác thép mạ kẽm 10.9 M16x110 DIN 931 – Ren lửng
Vật liệu : Thép mạ kẽm 10.9
Đơn vị tính : Con ( PCS )
Hoá đơn : Có xuất hoá đơn VAT
Chất lượng : Có đầy đủ giấy tờ CO CQ
Bu lông lục giác thép mạ kẽm 10.9 M16x110 DIN 931 ren lửng đôi khi tới công trường với lớp mạ đã bị xước, hoặc bị hỏng trong lúc lắp. Câu hỏi thực tế là sửa được không, và sửa thế nào cho đúng.
Phân loại mức hư hỏng
Xước nhẹ, thấy vệt sáng nhưng chưa lộ thép: lớp kẽm còn, chỉ mất màng thụ động. Không cần xử lý gì đặc biệt, lớp kẽm xung quanh vẫn bảo vệ được.
Xước sâu, lộ ánh thép trên diện tích nhỏ vài milimet: kẽm xung quanh vẫn bảo vệ được nhờ cơ chế hy sinh. Có thể dùng tiếp, nhưng nếu ở môi trường ăn mòn mạnh thì nên xử lý bổ sung.
Bong mảng lớn, hoặc vùng lộ thép rộng hơn khoảng một centimet: vượt quá tầm bảo vệ của kẽm xung quanh. Phải xử lý hoặc thay.
Ren bị va đập móp: đây không còn là vấn đề lớp mạ mà là vấn đề cơ khí. Thay, không sửa.
Ba cách xử lý tại hiện trường
Sơn giàu kẽm. Loại sơn chứa hàm lượng bột kẽm rất cao trong màng khô, đủ để duy trì phần nào cơ chế bảo vệ hy sinh chứ không chỉ che chắn. Đây là cách phổ biến và hiệu quả nhất cho sửa chữa cục bộ.
Phun kẽm nóng chảy. Cho lớp phủ dày và bám tốt, nhưng cần thiết bị chuyên dụng và tay nghề, thường chỉ dùng cho kết cấu lớn chứ không cho từng con bu lông.
Mỡ chống gỉ hoặc sáp bảo vệ. Không phục hồi lớp mạ mà chỉ cách ly bề mặt khỏi ẩm. Phù hợp cho phần ren nhô ra và các vị trí có thể bảo dưỡng lại định kỳ.
Việc cần tránh khi sửa
Không dùng sơn thông thường phủ trực tiếp lên vùng lộ thép mà không có lớp lót phù hợp. Sơn thường chỉ che chắn, và khi màng sơn bị thủng thì gỉ lan dưới màng nhanh hơn cả khi không sơn.
Không dùng bàn chải sắt chải rộng ra vùng lành để làm sạch. Việc này bóc lớp mạ còn tốt và biến một vết nhỏ thành một vùng lớn.
Không hàn đắp hay gia nhiệt lên bu lông cấp 10.9 trong bất kỳ trường hợp nào. Nhiệt phá cấu trúc đã tôi ram và làm mất cấp bền, đây là điều nghiêm trọng hơn nhiều so với vấn đề chống gỉ ban đầu.
Phòng ngừa trong lúc thi công
Phần lớn hư hỏng lớp mạ xảy ra trong khâu vận chuyển và lắp đặt chứ không phải khi vận hành. Đổ bu lông từ thùng xuống nền bê tông, dùng búa đóng cho lọt lỗ, kẹp bằng mỏ lết răng đều là những thao tác gây hỏng.
Với cỡ dài 110 mm, thao tác luồn qua cụm nhiều lớp dễ làm xước thân trơn khi va vào mép lỗ lệch. Nên luồn bằng tay, xoay nhẹ, và gạt ba via quanh miệng lỗ trước.
Dùng khẩu tuýp đúng cỡ 24 thay vì mỏ lết cũng giảm hẳn hư hỏng ở đầu bu lông và đai ốc.
Thông số cỡ 110 mm
| Chiều dài thân | 110 mm |
| Đoạn thân trơn | 72 mm |
| Chiều dài ren b | 38 mm |
| Chiều dày kẹp khuyến nghị | 72 – 90 mm |
| Mô-men khô | 270 – 305 Nm |
Câu hỏi thường gặp
Xước nhỏ có phải thay không? Không, kẽm xung quanh vẫn bảo vệ được vùng lộ thép nhỏ vài milimet.
Sơn giàu kẽm có thay thế được lớp mạ không? Không hoàn toàn, nhưng là cách sửa cục bộ tốt nhất làm được tại hiện trường.
Có được hàn đắp chỗ hỏng không? Tuyệt đối không với bu lông cấp 10.9. Nhiệt làm mất cấp bền.
Bộ dụng cụ sửa chữa nên có sẵn
Với công trường có nhiều kết cấu mạ kẽm, nên chuẩn bị sẵn một bộ nhỏ thay vì xử lý tạm bằng thứ có trong tay.
Sơn giàu kẽm dạng lọ nhỏ có cọ, tiện cho vết xước cục bộ trên bu lông và đai ốc. Loại bình xịt phù hợp cho diện tích rộng hơn nhưng khó kiểm soát ở chỗ chật.
Giấy nhám mịn hoặc bàn chải sợi phi kim để làm sạch vùng cần sửa mà không bóc lớp mạ lành xung quanh. Tuyệt đối không dùng bàn chải sắt.
Giẻ sạch và dung môi nhẹ để tẩy dầu mỡ trước khi sơn, vì sơn phủ lên bề mặt dính dầu sẽ bong.
Mỡ chống gỉ dạng sáp cho phần ren nhô ra sau khi siết, và băng keo che để tránh sơn dính vào mặt tỳ hoặc ren cần giữ sạch.
Ghi chép vị trí đã sửa
Một điểm hay bị bỏ qua: vị trí đã sửa chữa lớp mạ không bao giờ bền bằng lớp mạ nguyên bản. Sơn giàu kẽm bám tốt nhưng vẫn là lớp phủ thi công tại hiện trường, chất lượng phụ thuộc điều kiện lúc đó.
Vì vậy nên ghi lại vị trí nào đã sửa và sửa bằng gì, rồi đưa các vị trí này vào danh sách ưu tiên kiểm tra trong các lần bảo trì sau. Chúng sẽ xuống cấp trước phần còn lại.
Nếu số vị trí phải sửa trong một đợt thi công nhiều bất thường, đó là tín hiệu về cách vận chuyển và thao tác lắp đặt chứ không phải chất lượng hàng. Xử lý nguyên nhân sẽ rẻ hơn là sửa hết đợt này tới đợt khác.
Sản phẩm liên quan
20.713 ₫/ Con
Số lượng đặt hàng tối thiểu: 25

Chưa có đánh giá nào.