| Hệ | Met |
|---|---|
| Size Ren | M18 |
| Chiều Dài Bulong | 90 mm |
| Vật Liệu | Thép mạ kẽm 10.9 |
| Bước Ren | 2.5 mm |
| Chiều Cao Đầu | 11.5 mm |
| Size Khóa | 27 mm |
| Loại Ren | Ren Thô |
| Phân Bố Ren | Ren Lửng |
| Tiêu Chuẩn | DIN 931 |
| Cường Độ Chịu Tải | ISO Class 10.9 |
Bulong Lục giác thép mạ kẽm 10.9 M18x90 DIN 931 – Ren lửng
Vật liệu : Thép mạ kẽm 10.9
Đơn vị tính : Con ( PCS )
Hoá đơn : Có xuất hoá đơn VAT
Chất lượng : Có đầy đủ giấy tờ CO CQ
Bu lông lục giác thép mạ kẽm 10.9 M18x90 DIN 931 ren lửng có hai giới hạn nhiệt độ khác nhau, và chúng không trùng nhau. Một giới hạn thuộc về thép, một thuộc về lớp mạ. Cái nào thấp hơn sẽ quyết định.
Hai giới hạn, hai nguyên nhân
Với phần thép, cấp 10.9 giữ được cơ tính trong khoảng nhiệt độ làm việc thông thường, xấp xỉ tới 150 độ C cho vận hành liên tục. Vượt ngưỡng, giới hạn chảy giảm và hiện tượng chùng ứng suất trở nên đáng kể.
Với lớp phủ, giới hạn thấp hơn nhiều. Màng thụ động thông thường bắt đầu mất tác dụng ở khoảng 60 đến 80 độ C. Bản thân lớp kẽm chịu nhiệt tốt hơn thế, nhưng khi mất màng thụ động thì tốc độ ăn mòn tăng lên.
Nghĩa là ở một cụm làm việc ổn định quanh 100 độ C, bu lông vẫn đủ khả năng chịu lực nhưng khả năng chống gỉ đã suy giảm so với thiết kế. Đây là điểm dễ bị bỏ qua vì không có dấu hiệu nào ngay lập tức.
Hệ quả thực tế
Với thiết bị nóng vừa phải, nên coi lớp mạ như biện pháp bảo vệ trong quá trình vận chuyển và lắp đặt, chứ không phải bảo vệ lâu dài. Bảo vệ lâu dài nên trông vào lớp sơn chịu nhiệt phủ sau khi lắp.
Nếu vị trí vừa nóng vừa ẩm, ví dụ gần đường ống hơi ngoài trời, lớp mạ điện phân sẽ xuống cấp nhanh. Nên chọn giải pháp khác ngay từ đầu.
Nếu nhiệt độ vượt 150 độ C, không dùng bu lông cấp 10.9 thông thường mà phải theo tiêu chuẩn vật liệu áp dụng cho thiết bị đó.
Nhiệt độ thấp cũng có giới hạn
Ở chiều ngược lại, thép cấp 10.9 làm việc được tới khoảng âm 50 độ C. Dưới ngưỡng đó, thép có xu hướng chuyển sang phá huỷ giòn và cần vật liệu chịu lạnh chuyên dụng.
Với điều kiện Việt Nam, giới hạn này hiếm khi là vấn đề trừ các ứng dụng kho lạnh sâu hoặc thiết bị hoá lỏng khí. Trong những trường hợp đó, phải tra theo tiêu chuẩn của ngành.
Lớp mạ kẽm không bị ảnh hưởng đáng kể bởi nhiệt độ thấp, nhưng chu kỳ đóng băng và tan băng trong kho lạnh gây ngưng tụ nhiều lần mỗi ngày, và đó mới là yếu tố cần tính.
Thông số cỡ 90 mm
| Chiều dài thân | 90 mm |
| Đoạn thân trơn | 48 mm |
| Chiều dài ren b | 42 mm |
| Giới hạn nhiệt của thép | khoảng âm 50 đến 150 độ C |
| Giới hạn của màng thụ động | khoảng 60 – 80 độ C |
| Chiều dày kẹp khuyến nghị | 48 – 67 mm |
Câu hỏi thường gặp
Cụm làm việc ở 100 độ C dùng bu lông mạ kẽm được không? Được về khả năng chịu lực, nhưng lớp mạ sẽ xuống cấp nhanh hơn. Nên sơn phủ chịu nhiệt sau khi lắp.
Giới hạn nào quyết định? Cái thấp hơn. Với mạ kẽm điện phân, thường là giới hạn của màng thụ động chứ không phải của thép.
Kho lạnh có vấn đề gì riêng không? Chu kỳ ngưng tụ nhiều lần mỗi ngày làm bề mặt ẩm thường xuyên, đây mới là yếu tố chính chứ không phải nhiệt độ thấp.
Nguồn nhiệt gián tiếp hay bị bỏ qua
Khi đánh giá nhiệt độ làm việc, người ta thường chỉ tính nhiệt độ của chất trong thiết bị. Nhưng bu lông có thể nóng hơn thế vì những nguồn khác.
Bức xạ từ bề mặt nóng gần đó: một cụm liên kết cách đường ống hơi vài chục centimet có thể nóng đáng kể dù không tiếp xúc trực tiếp, nhất là khi không có gió lưu thông.
Nắng chiếu trực tiếp lên bề mặt kim loại sẫm màu ngoài trời có thể đẩy nhiệt độ bề mặt lên cao hơn nhiệt độ không khí rất nhiều vào buổi trưa.
Nhiệt tích trong không gian kín: cụm liên kết trong hộp che, tủ điện hoặc dưới lớp cách nhiệt không toả nhiệt được và nóng hơn môi trường xung quanh.
Cách kiểm tra đơn giản là đo nhiệt độ bề mặt bằng súng đo hồng ngoại vào thời điểm nóng nhất trong ngày, thay vì suy đoán từ thông số thiết bị.
Khi các chi tiết trong cụm có nhiệt độ khác nhau
Một tình huống ít được để ý: trong cùng một cụm, bu lông và các tấm ghép không nhất thiết cùng nhiệt độ. Khi thiết bị khởi động, tấm tiếp xúc trực tiếp với nguồn nhiệt nóng lên trước, còn bu lông nằm bên ngoài nóng chậm hơn.
Trong giai đoạn chênh lệch đó, tấm giãn nở trong khi bu lông chưa kịp, nên lực kẹp tăng vọt tạm thời. Nếu bu lông vốn đã siết gần giới hạn, đợt tăng này có thể đẩy nó vượt ngưỡng.
Hiện tượng lặp lại mỗi lần khởi động, nên nó là một dạng tải chu kỳ mà không ai tính vào thiết kế.
Với thiết bị có chu kỳ khởi động và dừng thường xuyên, nên siết ở cận dưới của dải mô-men thay vì cận trên, để chừa dư địa cho những đợt tăng tạm thời này.
Sản phẩm liên quan
19.590 ₫/ Con
Số lượng đặt hàng tối thiểu: 26

Chưa có đánh giá nào.