| Hệ | Met |
|---|---|
| Size Ren | M18 |
| Chiều Dài Bulong | 120 mm |
| Vật Liệu | Thép đen 10.9 |
| Bước Ren | 2.5 mm |
| Chiều Cao Đầu | 11.5 mm |
| Size Khóa | 27 mm |
| Loại Ren | Ren Thô |
| Phân Bố Ren | Ren Lửng |
| Tiêu Chuẩn | DIN 931 |
| Cường Độ Chịu Tải | ISO Class 10.9 |
Bulong Lục giác thép đen 10.9 M18x120 DIN 931 – Ren lửng
Vật liệu : Thép đen 10.9
Đơn vị tính : Con ( PCS )
Hoá đơn : Có xuất hoá đơn VAT
Chất lượng : Có đầy đủ giấy tờ CO CQ
Bu lông lục giác thép đen 10.9 M18x120 DIN 931 ren lửng hay được dùng cho mặt bích thiết bị và cụm ghép có gioăng. Đây là loại mối ghép có quy tắc riêng, khác hẳn liên kết kết cấu thép, vì thứ cần đạt không phải chỉ là không trượt mà là kín.
Mối ghép kín khác mối ghép chịu lực ở đâu
Với liên kết kết cấu, mục tiêu là truyền lực và không trượt. Lực kẹp chênh lệch giữa các con vài phần trăm không ảnh hưởng gì đáng kể.
Với mặt bích có gioăng, mục tiêu là ép gioăng đều trên toàn chu vi. Nếu một phía ép chặt hơn phía kia, gioăng bị ép lệch và mối ghép rò ở phía lỏng, dù mọi con bu lông đều đạt mô-men danh nghĩa.
Nghĩa là ở đây, tính đồng đều quan trọng hơn giá trị tuyệt đối. Một cụm siết đều ở 380 Nm sẽ kín tốt hơn một cụm siết lệch nhau giữa 350 và 460 Nm.
Trình tự siết mặt bích tròn
Siết theo sơ đồ ngôi sao, tức đi qua các con đối xứng qua tâm chứ không đi vòng quanh. Với mặt bích 8 con, thứ tự là 1, 5, 3, 7, 2, 6, 4, 8.
Chia làm ít nhất ba lượt: khoảng 30 phần trăm, 60 phần trăm rồi 100 phần trăm mô-men mục tiêu. Sau lượt cuối, đi thêm một vòng tròn tuần tự để kiểm tra, vì việc siết con sau luôn làm ảnh hưởng con trước.
Với gioăng đàn hồi, cần thêm một lượt siết lại sau khi thiết bị đạt nhiệt độ và áp suất làm việc, khi gioăng đã lún ổn định.
Chiều dày kẹp khi có gioăng
Gioăng phải được tính vào chiều dày cụm, và phải tính theo chiều dày sau khi ép chứ không phải chiều dày ban đầu. Gioăng dày 3 mm có thể chỉ còn 2 mm sau khi siết đủ lực.
Với M18x120, dải chiều dày kẹp là 78 đến 97 mm. Nếu tổng hai mặt bích là 80 mm và gioăng ép còn 2 mm thì tổng là 82 mm, nằm gọn trong dải.
Cần chú ý mặt phân cách ở đây là chỗ có gioăng, và nó phải nằm trong đoạn thân trơn 78 mm. Với cụm mặt bích, điều này thường tự thoả mãn vì gioăng nằm ở giữa.
Khi thiết bị làm việc ở nhiệt độ cao
Mặt bích thiết bị thường nóng, và nhiệt gây hai vấn đề đồng thời: bu lông chùng ứng suất, gioăng lún nhanh hơn. Cả hai đều làm mất lực kẹp và dẫn tới rò.
Với cấp 10.9, giới hạn thực dụng cho vận hành liên tục là khoảng 150 độ C. Trên mức đó phải dùng vật liệu bu lông chuyên dụng theo tiêu chuẩn thiết bị áp lực, không dùng bu lông kết cấu thông thường.
Lưu ý thêm: với thiết bị áp lực, việc chọn bu lông thường thuộc phạm vi quy chuẩn riêng và cần người có thẩm quyền phê duyệt. Thông tin trong bài này là kiến thức chung, không thay thế cho quy chuẩn áp dụng.
Thông số cỡ 120 mm
| Chiều dài thân | 120 mm |
| Đoạn thân trơn | 78 mm |
| Chiều dài ren b | 42 mm |
| Chiều dày kẹp khuyến nghị | 78 – 97 mm |
| Mô-men khô | 400 – 460 Nm |
Câu hỏi thường gặp
Siết mặt bích theo thứ tự nào? Sơ đồ ngôi sao, đối xứng qua tâm, chia ba lượt tăng dần, rồi một vòng kiểm tra tuần tự.
Gioăng có tính vào chiều dày kẹp không? Có, và tính theo chiều dày sau khi ép chứ không phải chiều dày ban đầu.
Vì sao mặt bích vẫn rò dù đã siết đủ mô-men? Thường do siết không đều hoặc sai thứ tự, khiến gioăng bị ép lệch.
Gioăng quyết định lực kẹp cần thiết
Mỗi loại gioăng cần một áp suất ép tối thiểu để kín, và chịu được một áp suất tối đa trước khi bị phá huỷ. Lực kẹp của cụm bu lông phải nằm giữa hai giới hạn ấy trên toàn bộ diện tích gioăng.
Gioăng mềm như cao su hay giấy amiăng thay thế cần áp suất thấp nhưng lún nhiều và lún kéo dài. Gioăng kim loại hoặc kim loại bọc cần áp suất cao hơn nhiều nhưng ổn định hơn theo thời gian và chịu nhiệt tốt hơn.
Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới việc chọn số lượng và cỡ bu lông. Một mặt bích dùng gioăng kim loại có thể cần lực kẹp tổng lớn gấp nhiều lần so với cùng mặt bích dùng gioăng mềm.
Vì vậy khi thay loại gioăng trên một thiết bị đang vận hành, không thể giữ nguyên mô-men siết cũ. Phải tính lại theo yêu cầu của gioăng mới.
Khi mặt bích vẫn rò sau khi siết
Phản xạ đầu tiên thường là siết mạnh thêm. Đây thường là cách làm tình hình xấu đi, vì nếu nguyên nhân là ép lệch thì siết thêm chỉ làm lệch nhiều hơn, còn nếu gioăng đã quá tải thì siết thêm sẽ phá huỷ nó.
Trình tự chẩn đoán hợp lý gồm bốn bước. Kiểm tra lực kẹp từng con bằng cờ lực theo hướng nới, tìm xem có con nào lệch nhiều so với các con khác không.
Kiểm tra độ song song của hai mặt bích bằng thước lá tại nhiều vị trí quanh chu vi. Chênh lệch khe hở cho biết cụm bị ép lệch.
Kiểm tra bề mặt tiếp xúc của mặt bích: vết xước hướng tâm, rỗ, hoặc cong vênh đều làm rò dù lực kẹp đủ.
Kiểm tra gioăng có đúng loại, đúng kích thước và còn hạn sử dụng không. Gioăng đã dùng lại là nguyên nhân rất phổ biến.
Chỉ sau khi loại trừ bốn nguyên nhân trên mới nên xem xét tăng lực kẹp, và phải kiểm tra rằng mức mới vẫn nằm trong giới hạn của cả bu lông lẫn gioăng.
Sản phẩm liên quan
24.110 ₫/ Con
Số lượng đặt hàng tối thiểu: 50

Chưa có đánh giá nào.