| Hệ | Met |
|---|---|
| Size Ren | M16 |
| Chiều Dài Bulong | 140 mm |
| Vật Liệu | Thép đen 10.9 |
| Bước Ren | 2.0 mm |
| Chiều Cao Đầu | 10 mm |
| Size Khóa | 24 mm |
| Loại Ren | Ren Thô |
| Phân Bố Ren | Ren Lửng |
| Tiêu Chuẩn | DIN 931 |
| Cường Độ Chịu Tải | ISO Class 10.9 |
Bulong Lục giác thép đen 10.9 M16x140 DIN 931 – Ren lửng
Vật liệu : Thép đen 10.9
Đơn vị tính : Con ( PCS )
Hoá đơn : Có xuất hoá đơn VAT
Chất lượng : Có đầy đủ giấy tờ CO CQ
Bu lông lục giác thép đen 10.9 M16x140 DIN 931 ren lửng rất hiếm khi hỏng vì thiếu khả năng chịu lực. Khi một con gãy, nguyên nhân gần như luôn nằm ở nơi khác. Bài này đi qua các kiểu hỏng thường gặp và cách đọc mặt gãy để tìm nguyên nhân.
Đọc mặt gãy: ba dạng cơ bản
Gãy mỏi. Mặt gãy có hai vùng rõ rệt: một vùng nhẵn, mịn, có các đường cong đồng tâm giống vân gỗ, và một vùng còn lại thô ráp. Vùng nhẵn là phần nứt lan dần qua hàng triệu chu kỳ; vùng thô là phần đứt đột ngột khi tiết diện còn lại không chịu nổi. Đây là dạng phổ biến nhất ở bu lông cường độ cao.
Gãy quá tải dẻo. Mặt gãy thô đều, có cổ thắt thấy rõ, thân bu lông giãn dài trước khi đứt. Dạng này cho biết bu lông đã chịu tải vượt giới hạn, thường do siết quá mô-men.
Gãy giòn. Mặt gãy phẳng, sáng, hạt mịn, không có biến dạng dẻo nào. Với bu lông mạ điện phân, đây là dấu hiệu điển hình của giòn hydro. Với bản thép đen thì hiếm, và nếu gặp thì thường do vật liệu không đúng cấp.
Vị trí gãy nói lên điều gì
Gãy tại vòng ren đầu tiên ăn vào đai ốc là vị trí phổ biến nhất, chiếm phần lớn các trường hợp. Đây là điểm tập trung ứng suất cao nhất trong toàn bu lông, vì tải chuyển từ bu lông sang đai ốc gần như hoàn toàn ở vài vòng ren đầu.
Gãy tại chỗ nối giữa thân trơn và đầu bu lông cho thấy có ứng suất uốn: hai mặt tỳ không song song, lỗ nghiêng, hoặc mặt tỳ bị lún lệch một bên.
Gãy tại đoạn chuyển tiếp giữa thân trơn và phần ren là dấu hiệu riêng của ren lửng. Nếu đoạn chuyển tiếp có gờ sắc do gia công kém, đó chính là điểm khởi phát nứt. Đây là lý do phải kiểm tra vát côn ở đoạn này khi nhận hàng.
Năm nguyên nhân gốc hay gặp
Lực kẹp không đủ. Nghịch lý nhưng đúng: bu lông lỏng dễ gãy mỏi hơn bu lông siết chặt. Khi lực kẹp đủ, tải ngoài chủ yếu làm giảm lực ép giữa hai tấm chứ ít truyền vào bu lông. Khi lực kẹp thiếu, toàn bộ biên độ tải dồn lên bu lông và nứt mỏi bắt đầu.
Siết quá mô-men. Bu lông đã ở gần giới hạn chảy ngay khi lắp, không còn dự trữ cho tải vận hành.
Mặt phân cách rơi vào vùng ren. Với ren lửng, đây là lỗi chọn chiều dài. Rãnh ren chịu cắt trực tiếp và nứt khởi phát rất nhanh.
Ăn mòn kết hợp tải. Gỉ trong rãnh ren tạo hố nhỏ, mỗi hố là một điểm tập trung ứng suất. Kết hợp với tải lặp thì tuổi thọ giảm rất mạnh.
Hàng không đúng cấp. Trường hợp này mặt gãy thường giòn và độ cứng đo được thấp hơn 32 HRC.
Cần làm gì khi phát hiện một con gãy
Đừng chỉ thay con đó rồi chạy tiếp. Một con gãy nghĩa là điều kiện làm việc của cả cụm có vấn đề, và các con còn lại đang chịu cùng điều kiện ấy, thậm chí nặng hơn vì phải gánh thêm phần của con đã mất.
Việc nên làm: giữ lại con gãy và không đánh sạch mặt gãy, chụp ảnh vị trí trước khi tháo, kiểm tra lực kẹp của toàn bộ các con còn lại, tra số lô để biết các con cùng lô nằm ở đâu, và xem lại chiều dày cụm có đúng dải khuyến nghị không.
Thông số cỡ 140 mm
| Chiều dài thân | 140 mm |
| Chiều dài ren b | 44 mm |
| Đoạn thân trơn | 96 mm |
| Chiều dày kẹp khuyến nghị | 96 – 120 mm |
| Độ cứng yêu cầu | 32 – 39 HRC |
Câu hỏi thường gặp
Bu lông lỏng hay bu lông chặt dễ gãy hơn? Bu lông lỏng dễ gãy mỏi hơn, vì toàn bộ biên độ tải ngoài dồn vào nó thay vì được lực kẹp hấp thụ.
Nhìn mặt gãy có biết nguyên nhân không? Biết được dạng hỏng: mỏi, quá tải dẻo hay giòn. Từ đó khoanh vùng nguyên nhân, nhưng kết luận chắc chắn cần phân tích chuyên môn.
Có nên thay cả cụm khi một con gãy không? Nên kiểm tra toàn bộ. Nếu các con còn lại cùng lô và cùng điều kiện làm việc thì thay cả cụm là lựa chọn an toàn.
Ăn mòn kết hợp tải: hai cơ chế cần phân biệt
Ăn mòn rỗ tạo các hố nhỏ trên bề mặt, thường bắt đầu ở đáy rãnh ren nơi ẩm đọng lại. Mỗi hố là một điểm tập trung ứng suất, và dưới tải lặp thì nứt mỏi khởi phát từ đó. Trên mặt gãy sẽ thấy vùng khởi phát nằm ở đáy rãnh ren kèm dấu vết ăn mòn.
Nứt do ăn mòn ứng suất là cơ chế khác: vết nứt lan trong môi trường ăn mòn dưới ứng suất kéo duy trì, không cần tải lặp. Thép cường độ cao nhạy hơn thép thường, và cấp 10.9 nằm trong nhóm cần lưu ý. Mặt gãy thường phẳng, giòn, có thể phân nhánh.
Phân biệt hai cơ chế quan trọng vì cách xử lý khác nhau. Với ăn mòn rỗ, giải pháp là bảo vệ bề mặt và loại bỏ nguồn ẩm. Với nứt do ăn mòn ứng suất, có khi phải hạ cấp bền xuống 8.8 để giảm độ nhạy, hoặc đổi sang vật liệu khác.
Lưu mẫu và quy trình điều tra
Việc đầu tiên và quan trọng nhất: không đánh sạch, không đánh bóng, không dùng bàn chải sắt lên mặt gãy. Toàn bộ thông tin nằm ở bề mặt đó, và một lần chải là mất hết.
Chụp ảnh vị trí lắp trước khi tháo, ghi lại hướng của con bu lông trong cụm và vị trí mặt gãy so với các lớp ghép. Bọc riêng từng mảnh, tránh để hai nửa cọ vào nhau trong lúc vận chuyển.
Thu thập kèm theo: một con nguyên vẹn cùng lô, chứng nhận chất lượng của lô, hồ sơ mô-men siết đã áp dụng, và lịch sử vận hành gần thời điểm sự cố. Thiếu bối cảnh thì kết quả phân tích mặt gãy cũng chỉ nói được một nửa câu chuyện.
Nếu sự cố ở vị trí quan trọng, nên dừng thiết bị và kiểm tra toàn bộ các con còn lại trước khi vận hành tiếp, thay vì chỉ thay con đã gãy.
Bốn việc rẻ tiền giúp phòng ngừa phần lớn sự cố
Siết bằng cờ lực đã hiệu chuẩn thay vì siết theo cảm tính. Đây là biện pháp đơn giản nhất và hiệu quả nhất, vì lực kẹp thiếu là nguyên nhân gốc phổ biến nhất của gãy mỏi.
Làm sạch mặt tỳ và ren trước khi lắp. Mất vài phút mỗi vị trí nhưng loại bỏ được biến động ma sát và nguồn lún.
Kiểm tra chiều dày cụm nằm trong dải khuyến nghị, với cỡ 140 mm là 96 đến 120 mm. Việc này chống được kiểu hỏng do mặt phân cách rơi vào vùng ren.
Đánh vạch sơn sau khi siết. Không tốn gì mà cho phép phát hiện nới lỏng bằng mắt trong mọi lần đi kiểm tra sau này.
Sản phẩm liên quan
23.602 ₫/ Con
Số lượng đặt hàng tối thiểu: 50

Chưa có đánh giá nào.