| Hệ | Met |
|---|---|
| Size Ren | M18 |
| Chiều Dài Bulong | 120 mm |
| Vật Liệu | Thép mạ kẽm 10.9 |
| Bước Ren | 2.5 mm |
| Chiều Cao Đầu | 11.5 mm |
| Size Khóa | 27 mm |
| Loại Ren | Ren Thô |
| Phân Bố Ren | Ren Lửng |
| Tiêu Chuẩn | DIN 931 |
| Cường Độ Chịu Tải | ISO Class 10.9 |
Bulong Lục giác thép mạ kẽm 10.9 M18x120 DIN 931 – Ren lửng
Vật liệu : Thép mạ kẽm 10.9
Đơn vị tính : Con ( PCS )
Hoá đơn : Có xuất hoá đơn VAT
Chất lượng : Có đầy đủ giấy tờ CO CQ
Bu lông lục giác thép mạ kẽm 10.9 M18x120 DIN 931 ren lửng ở chân cột thường tiếp xúc với vữa rót không co hoặc bê tông. Đây là môi trường kiềm mạnh, và kẽm phản ứng với kiềm. Điều này ít được nhắc tới nhưng ảnh hưởng thực tế.
Kẽm trong bê tông tươi
Bê tông và vữa xi măng khi còn tươi có độ kiềm rất cao. Kẽm tiếp xúc với môi trường này sẽ phản ứng, giải phóng khí hydro và tiêu hao một phần lớp mạ.
Giai đoạn phản ứng mạnh nhất kéo dài trong những ngày đầu khi vữa còn ướt. Sau đó, khi bê tông đóng rắn và độ ẩm giảm, một lớp sản phẩm phản ứng hình thành trên bề mặt kẽm và làm chậm quá trình lại đáng kể.
Nghĩa là tổn thất chủ yếu xảy ra ở giai đoạn đầu chứ không kéo dài. Với lớp mạ điện phân mỏng 8 đến 12 micromet, phần tổn thất này chiếm tỉ lệ đáng kể so với tổng độ dày.
Một hệ quả phụ đáng lưu ý: khí hydro sinh ra có thể tạo bọt nhỏ ở mặt tiếp xúc giữa kẽm và vữa, làm giảm độ bám dính giữa hai vật liệu.
Khi nào cần quan tâm và khi nào không
Nếu bu lông chỉ đi qua bản đế và không tiếp xúc trực tiếp với vữa, vấn đề này không phát sinh. Đây là trường hợp phổ biến nhất với các liên kết phụ quanh chân cột.
Nếu một phần thân bu lông nằm trong vữa rót, ví dụ khi vữa được rót cao lên quá bản đế, thì phần đó chịu tác động. Nên hạn chế bằng cách kiểm soát cao độ rót.
Với bu lông neo chôn sâu trong bê tông, tình huống lại khác: sau khi bê tông đóng rắn, môi trường kiềm ổn định thực ra bảo vệ thép rất tốt. Vấn đề chỉ nằm ở giai đoạn đầu và ở chỗ giáp ranh giữa phần trong và phần ngoài bê tông.
Chỗ giáp ranh là điểm yếu
Vị trí bu lông đi ra khỏi bề mặt bê tông là nơi hỏng trước nhất trong hầu hết trường hợp. Ở đó có đủ ba yếu tố: độ ẩm từ bê tông thấm ra, oxy từ không khí, và một khe nhỏ giữa thép với bê tông do co ngót.
Biện pháp thực tế là tạo gờ chống nước quanh chân bu lông khi hoàn thiện, sao cho nước không đọng tại vị trí giáp ranh, và trám kín khe bằng vật liệu đàn hồi.
Với cụm ngoài trời, nên phủ thêm lớp bảo vệ lên đoạn bu lông nhô ra và vùng giáp ranh sau khi đã siết và nghiệm thu xong.
Thông số cỡ 120 mm
| Chiều dài thân | 120 mm |
| Đoạn thân trơn | 78 mm |
| Chiều dài ren b | 42 mm |
| Chiều dày kẹp khuyến nghị | 78 – 97 mm |
| Mô-men khô | 360 – 420 Nm |
Câu hỏi thường gặp
Bu lông mạ kẽm chôn trong bê tông có bị ăn mòn không? Có tổn thất ở giai đoạn bê tông còn tươi, sau đó chậm lại nhiều. Môi trường bê tông đã đóng rắn thực ra bảo vệ thép tốt.
Vị trí nào hỏng trước? Chỗ bu lông đi ra khỏi bề mặt bê tông, nơi có cả ẩm, oxy và khe co ngót.
Nên siết trước hay sau khi vữa đạt cường độ? Không nên siết đạt lực kẹp thiết kế trước khi vữa đủ cường độ, và cần một lượt siết kiểm tra sau đó.
Vữa rót không co và thời gian chờ
Vữa rót không co được thiết kế để không co ngót khi đóng rắn, nhưng nó vẫn cần thời gian đạt cường độ. Trong giai đoạn đó, vữa còn mềm và sẽ lún dưới áp lực của lực kẹp.
Nếu siết đạt lực kẹp thiết kế khi vữa chưa đủ cường độ, hai chuyện xảy ra: vữa bị ép biến dạng cục bộ dưới bản đế, và lực kẹp mất đi khi vữa lún.
Quy trình hợp lý là siết ở mức thấp để giữ vị trí trong lúc chờ, rồi siết đạt lực kẹp thiết kế sau khi vữa đạt cường độ theo hướng dẫn của nhà sản xuất, thường là vài ngày.
Cần một lượt kiểm tra nữa sau vài tuần, vì vữa tiếp tục phát triển cường độ và cụm có thể ổn định lại ở trạng thái khác.
Với bu lông mạ kẽm, giai đoạn vữa còn ướt cũng là giai đoạn lớp mạ bị tiêu hao nhiều nhất do môi trường kiềm. Rút ngắn thời gian tiếp xúc với vữa ướt vì thế có lợi cả về cơ lẫn về chống gỉ.
Bảo vệ vùng giáp ranh với bê tông
Vị trí bu lông đi ra khỏi bề mặt bê tông hoặc vữa là điểm hỏng sớm nhất, và cũng là điểm dễ xử lý nhất nếu làm ngay từ đầu.
Biện pháp thứ nhất là tạo hình bề mặt vữa sao cho nước chảy ra xa chân bu lông thay vì đọng lại. Một gờ dốc nhẹ quanh chân là đủ, và làm lúc vữa còn ướt thì gần như không tốn thêm công.
Biện pháp thứ hai là trám khe giữa thép và vữa bằng vật liệu đàn hồi sau khi vữa đã đóng rắn. Khe này hình thành do co ngót và là đường dẫn nước vào bên trong.
Biện pháp thứ ba là phủ lớp bảo vệ lên đoạn bu lông nhô ra và vùng giáp ranh, thực hiện sau khi đã siết và nghiệm thu xong.
Ba việc này cộng lại mất không tới nửa giờ cho một chân cột, nhưng chúng xử lý đúng vị trí mà phần lớn hư hỏng bắt đầu.
Sản phẩm liên quan
24.110 ₫/ Con
Số lượng đặt hàng tối thiểu: 21

Chưa có đánh giá nào.