| Hệ | Met |
|---|---|
| Size Ren | M16 |
| Chiều Dài Bulong | 100 mm |
| Vật Liệu | Thép mạ kẽm 10.9 |
| Bước Ren | 2.0 mm |
| Chiều Cao Đầu | 10 mm |
| Size Khóa | 24 mm |
| Loại Ren | Ren Thô |
| Phân Bố Ren | Ren Lửng |
| Tiêu Chuẩn | DIN 931 |
| Cường Độ Chịu Tải | ISO Class 10.9 |
Bulong Lục giác thép mạ kẽm 10.9 M16x100 DIN 931 – Ren lửng
Vật liệu : Thép mạ kẽm 10.9
Đơn vị tính : Con ( PCS )
Hoá đơn : Có xuất hoá đơn VAT
Chất lượng : Có đầy đủ giấy tờ CO CQ
Bu lông lục giác thép mạ kẽm 10.9 M16x100 DIN 931 ren lửng có lớp phủ 8 đến 12 micromet. Từ con số đó có thể ước tính thô lớp mạ giữ được bao lâu, và phép ước tính này hữu ích hơn nhiều so với việc hỏi chung chung sản phẩm bền mấy năm.
Nguyên tắc ước tính
Kẽm tiêu hao với một tốc độ khá ổn định trong từng loại môi trường, đo bằng micromet mỗi năm. Lấy độ dày lớp mạ chia cho tốc độ tiêu hao sẽ ra số năm lớp mạ tồn tại trước khi lõi thép bắt đầu lộ ra.
| Môi trường | Tiêu hao kẽm mỗi năm | Tuổi thọ lớp 10 micromet |
| Trong nhà khô | dưới 0,1 micromet | trên 50 năm |
| Nhà xưởng thoáng | khoảng 0,2 – 0,5 | khoảng 20 – 50 năm |
| Ngoài trời có mái, đô thị | khoảng 1 – 2 | khoảng 5 – 10 năm |
| Ngoài trời phơi mưa | khoảng 2 – 4 | khoảng 3 – 5 năm |
| Ven biển | khoảng 4 – 8 | khoảng 1 – 3 năm |
Các con số là khoảng tham khảo chung, dùng để so sánh tương đối giữa các môi trường chứ không phải cam kết tuổi thọ. Điều kiện cụ thể tại vị trí lắp có thể lệch đáng kể.
Đọc bảng cho đúng
Điều bảng nói là thời điểm lớp kẽm cạn, không phải thời điểm bu lông hỏng. Sau khi hết kẽm, lõi thép mới bắt đầu gỉ, và phải gỉ khá lâu nữa mới ảnh hưởng tới khả năng chịu lực của một con M16.
Nhưng với ren lửng có một chi tiết cần lưu ý: phần ren là nơi tiết diện nhỏ nhất và cũng là nơi ẩm đọng lâu nhất. Gỉ ăn vào đáy rãnh ren tạo điểm tập trung ứng suất, và tuổi thọ mỏi giảm trước khi tiết diện giảm đáng kể.
Vì vậy với mối ghép chịu tải lặp, không nên chờ tới khi thấy gỉ rõ mới xử lý.
Ba cách kéo dài tuổi thọ mà không đổi sản phẩm
Cách thứ nhất là làm giảm thời gian bề mặt ẩm. Bố trí thoát nước, tránh vị trí đọng, tránh che kín khiến ẩm không thoát. Đây là biện pháp không tốn tiền vật tư và hiệu quả nhất.
Cách thứ hai là sơn phủ cụm liên kết sau khi siết. Hai lớp bảo vệ chồng lên nhau cho tuổi thọ dài hơn tổng của từng lớp riêng.
Cách thứ ba là bôi mỡ chống gỉ vào đoạn thân trơn trước khi luồn, lấp khe hở giữa bu lông và thành lỗ. Chỉ bôi thân trơn, không bôi ren.
Khi nào nên tính tới thay thế theo kế hoạch
Với các cụm ở môi trường tiêu hao nhanh, chấp nhận thay định kỳ đôi khi kinh tế hơn là đầu tư vật liệu cao cấp ngay từ đầu, nhất là khi vị trí dễ tiếp cận và chi phí nhân công thay thấp.
Ngược lại, với vị trí khó tiếp cận, phải dừng máy để thay, hoặc nằm trong kết cấu quan trọng, thì chi phí thay thế lớn hơn chênh lệch vật tư rất nhiều. Trường hợp này nên chọn lớp phủ tốt hơn ngay từ đầu.
Thông số cỡ 100 mm
| Chiều dài thân | 100 mm |
| Đoạn thân trơn | 62 mm |
| Chiều dài ren b | 38 mm |
| Lớp mạ | Kẽm điện phân 8 – 12 micromet |
| Chiều dày kẹp khuyến nghị | 62 – 80 mm |
Câu hỏi thường gặp
Lớp mạ hết thì bu lông hỏng ngay không? Không. Lõi thép mới bắt đầu gỉ và còn lâu mới ảnh hưởng khả năng chịu lực, trừ mối ghép chịu tải lặp.
Sơn phủ thêm kéo dài được bao lâu? Tuỳ chất lượng sơn và điều kiện, nhưng thường tăng đáng kể so với chỉ có lớp mạ.
Có cách nào đo lớp mạ còn lại không? Có thiết bị đo độ dày lớp phủ không phá huỷ, dùng được tại hiện trường cho các cụm quan trọng.
Vì sao con số thực tế thường lệch so với ước tính
Bảng tuổi thọ dựa trên tốc độ tiêu hao trung bình năm của một bề mặt kẽm phẳng, phơi tự do, khô ráo giữa các lần ẩm. Bu lông trong một cụm liên kết hiếm khi ở điều kiện đó.
Yếu tố làm thực tế xấu hơn ước tính: khe hở giữa các chi tiết giữ nước lâu hơn nhiều so với bề mặt phẳng; rãnh ren cũng vậy; và lớp mạ ở đáy ren vốn đã mỏng hơn giá trị danh nghĩa.
Yếu tố làm thực tế tốt hơn ước tính: phần lớn bề mặt bu lông nằm bên trong cụm, được che khỏi mưa nắng trực tiếp; và nếu cụm được sơn phủ sau khi lắp thì lớp mạ gần như không tiêu hao.
Vì hai nhóm yếu tố ngược chiều nhau, con số ước tính nên hiểu là để so sánh giữa các phương án chứ không phải để cam kết với khách hàng. Nói lớp mạ điện phân phù hợp môi trường có mái che thì đúng; nói nó bền đúng bảy năm thì không có cơ sở.
Theo dõi thực địa bằng mẫu chứng
Cách đáng tin nhất để biết môi trường cụ thể của mình khắc nghiệt tới đâu là đặt mẫu chứng. Lấy vài con bu lông cùng lô, treo tại đúng vị trí đại diện của công trình, ghi ngày bắt đầu.
Định kỳ sáu tháng lấy xuống quan sát và đo độ dày lớp phủ còn lại. Sau một hai năm sẽ có tốc độ tiêu hao thực tế của chính vị trí đó, chính xác hơn mọi bảng tra.
Với đơn vị quản lý nhiều công trình, dữ liệu này tích luỹ dần thành cơ sở chọn vật tư cho các dự án sau, thay vì mỗi lần lại phải đoán.
Chi phí của việc này gần như bằng không: vài con bu lông và mười lăm phút mỗi sáu tháng.
Sản phẩm liên quan
19.750 ₫/ Con
Số lượng đặt hàng tối thiểu: 9

Chưa có đánh giá nào.