| Hệ | Met |
|---|---|
| Size Ren | M16 |
| Chiều Dài Bulong | 60 mm |
| Vật Liệu | Thép đen 10.9 |
| Bước Ren | 2.0 mm |
| Chiều Cao Đầu | 10 mm |
| Size Khóa | 24 mm |
| Loại Ren | Ren Thô |
| Phân Bố Ren | Ren Lửng |
| Tiêu Chuẩn | DIN 931 |
| Cường Độ Chịu Tải | ISO Class 10.9 |
Bulong Lục giác thép đen 10.9 M16x60 DIN 931 – Ren lửng
Vật liệu : Thép đen 10.9
Đơn vị tính : Con ( PCS )
Hoá đơn : Có xuất hoá đơn VAT
Chất lượng : Có đầy đủ giấy tờ CO CQ
Bu lông lục giác thép đen 10.9 M16x60 DIN 931 ren lửng được siết ở khoảng 300 đến 340 Nm. Nhưng mô-men không phải thứ giữ mối ghép lại với nhau. Thứ giữ mối ghép là lực kẹp, và giữa hai đại lượng này có một khoảng cách mà phần lớn sự cố bu lông rơi vào.
Mô-men siết không phải lực kẹp
Khi vặn đai ốc, mô-men mà cờ lực đo được bị chia làm ba phần. Khoảng 50 phần trăm dùng để thắng ma sát dưới mặt tỳ của đai ốc. Khoảng 40 phần trăm dùng để thắng ma sát trên mặt ren. Chỉ khoảng 10 phần trăm còn lại thực sự biến thành lực kéo dọc trục, tức lực kẹp.
Nghĩa là 9 phần 10 công sức siết bị ma sát nuốt mất. Và vì ma sát là thứ thay đổi mạnh theo bề mặt, dầu mỡ, gỉ, lớp phủ, cùng một mô-men 320 Nm có thể cho lực kẹp 110 kN trên bu lông này và 150 kN trên bu lông kia.
Đây là lý do mọi bảng mô-men đều ghi kèm điều kiện. Con số 300 đến 340 Nm của M16 cấp 10.9 chỉ đúng khi ren và mặt tỳ khô, sạch, không dầu, không gỉ. Thay đổi điều kiện đó thì con số không còn ý nghĩa.
Bôi trơn làm lệch bao nhiêu
| Điều kiện bề mặt | Mô-men cần cho cùng lực kẹp |
| Khô, sạch (chuẩn) | 300 – 340 Nm |
| Có dầu nhẹ trên ren | thấp hơn khoảng 15 – 20 phần trăm |
| Bôi mỡ cả ren và mặt tỳ | thấp hơn khoảng 25 – 30 phần trăm |
| Ren gỉ hoặc dính ba via | cao hơn, nhưng lực kẹp không đoán được |
Hàng cột giữa cần đọc đúng chiều: nếu đã bôi mỡ mà vẫn siết đủ 320 Nm, bu lông sẽ nhận lực kẹp cao hơn dự kiến khoảng một phần tư và có thể vượt giới hạn chảy. Bôi trơn không phải là sai, nhưng bôi trơn rồi giữ nguyên mô-men của bảng khô thì là sai.
Trường hợp ren gỉ nguy hiểm hơn cả: ma sát tăng thất thường, cờ lực báo đủ trong khi lực kẹp có thể chỉ bằng một nửa. Không có cách nào bù bằng cách siết mạnh hơn, chỉ có cách thay bu lông.
Bốn tình huống siết đủ mô-men mà mối ghép vẫn lỏng
Đai ốc chạm chân thân trơn. Với ren lửng, nếu chiều dày cụm nhỏ hơn đoạn thân trơn thì đai ốc dừng lại trước khi ép. Cờ lực nhảy vọt lên 320 Nm trong tích tắc, nhưng hai tấm chưa hề bị ép. Với M16x60, đoạn thân trơn là 22 mm nên cụm phải dày ít nhất 22 mm.
Sơn dày dưới mặt tỳ. Lớp sơn epoxy 0,2 mm chịu áp suất tiếp xúc rất cao dưới đầu bu lông sẽ lún dần trong vài giờ. Lực kẹp mất theo mà không ai biết, vì cờ lực đã cất vào hộp từ lâu.
Bề mặt không phẳng. Hai mặt tỳ không song song khiến bu lông chịu uốn. Một phần khả năng chịu kéo bị ứng suất uốn chiếm chỗ, lực kẹp thực tế thấp hơn tính toán.
Siết sai thứ tự trên cụm nhiều bu lông. Siết con thứ tư làm lỏng con thứ nhất. Nếu không siết theo sơ đồ chéo và không lặp lại ít nhất hai lượt, kết quả cuối cùng là các con chênh lệch nhau rất xa dù từng con đều đạt mô-men.
Thông số cỡ 60 mm
| Chiều dài thân | 60 mm |
| Chiều dài ren b | 38 mm |
| Đoạn thân trơn | 22 mm |
| Bước ren | 2,0 mm |
| Tiết diện chịu lực | 157 mm2 |
| Chiều dày kẹp khuyến nghị | 22 – 40 mm |
| Lực kẹp mục tiêu | 110 – 125 kN |
| Mô-men khô | 300 – 340 Nm |
Quy trình siết cho kết quả ổn định
Bước một, làm sạch. Lau ren bu lông và ren đai ốc, gạt hết ba via quanh lỗ, cạo lớp sơn dày ở vùng mặt tỳ. Đây là bước bị bỏ nhiều nhất và cũng là bước ảnh hưởng lớn nhất.
Bước hai, siết ba lượt tăng dần: khoảng 100 Nm, rồi 220 Nm, rồi 320 Nm, mỗi lượt đi hết cụm theo sơ đồ chéo trước khi sang lượt sau. Cách này cho phân bố đều hơn nhiều so với siết thẳng một lượt tới đích.
Bước ba, siết lại sau khi thiết bị chạy vài giờ. Lượt này bù phần lún của sơn, gioăng và mặt tỳ. Với cụm có gioăng đàn hồi thì lượt siết lại là bắt buộc chứ không phải tuỳ chọn.
Khi nào nên đo lực kẹp thay vì đo mô-men
Với mối ghép quan trọng, có ba cách chính xác hơn cờ lực. Cách đơn giản nhất là phương pháp góc quay: siết tới một mô-men mồi rồi quay thêm một góc xác định, vì góc quay liên hệ trực tiếp với độ giãn của bu lông chứ không qua ma sát.
Cách thứ hai là dùng long đền chỉ thị lực, loại có các bướu nhỏ bị ép bẹt khi đạt lực kẹp, kiểm tra bằng thước lá. Cách thứ ba là đo trực tiếp độ giãn dài của bu lông bằng siêu âm, chính xác nhất nhưng chỉ dùng cho công trình lớn.
Câu hỏi thường gặp
Siết bao nhiêu là đủ cho M16 cấp 10.9? Khoảng 300 đến 340 Nm khi ren và mặt tỳ khô sạch. Nếu bôi trơn phải giảm 15 đến 30 phần trăm tuỳ mức bôi.
Vì sao cờ lực báo đủ mà bu lông vẫn lỏng sau một tuần? Thường do lún: sơn dày, gioăng, hoặc mặt tỳ là vật liệu mềm. Cách xử lý là siết lại sau vài giờ vận hành và dùng long đền cứng.
Có nên dùng súng siết hơi không? Không cho bước cuối. Súng hơi không kiểm soát được mô-men chính xác. Dùng súng để vặn nhanh tới gần rồi hoàn tất bằng cờ lực.
Bu lông đã siết tới giới hạn có dùng lại được không? Với mối ghép quan trọng thì không. Bu lông cấp 10.9 đã chịu tải gần giới hạn chảy có thể đã biến dạng dẻo cục bộ ở chân ren.
Sản phẩm liên quan
12.046 ₫/ Con
Số lượng đặt hàng tối thiểu: 100

Chưa có đánh giá nào.