| Hệ | Met |
|---|---|
| Size Ren | M18 |
| Chiều Dài Bulong | 75 mm |
| Vật Liệu | Thép mạ kẽm 10.9 |
| Bước Ren | 2.5 mm |
| Chiều Cao Đầu | 11.5 mm |
| Size Khóa | 27 mm |
| Loại Ren | Ren Thô |
| Phân Bố Ren | Ren Lửng |
| Tiêu Chuẩn | DIN 931 |
| Cường Độ Chịu Tải | ISO Class 10.9 |
Bulong Lục giác thép mạ kẽm 10.9 M18x75 DIN 931 – Ren lửng
Vật liệu : Thép mạ kẽm 10.9
Đơn vị tính : Con ( PCS )
Hoá đơn : Có xuất hoá đơn VAT
Chất lượng : Có đầy đủ giấy tờ CO CQ
Bu lông lục giác thép mạ kẽm 10.9 M18x75 DIN 931 ren lửng thường xuất hiện trong giàn mái, giàn không gian và kết cấu nhẹ trên cao. Đặc điểm chung của các vị trí này là sau khi lắp xong thì gần như không ai lên kiểm tra lại trong nhiều năm.
Vì sao vị trí khó tiếp cận đổi cách tính
Với mối ghép dễ tiếp cận, chọn vật liệu rẻ rồi thay khi cần là một chiến lược hợp lý. Với mối ghép trên đỉnh giàn mái cao hai mươi mét, chiến lược đó sụp đổ vì chi phí tiếp cận vượt xa chi phí vật tư.
Một lần dựng giàn giáo hoặc thuê xe nâng người để thay vài con bu lông có thể tốn hơn toàn bộ tiền bu lông của cả công trình. Chưa kể việc dừng hoạt động bên dưới.
Vì vậy nguyên tắc cho vị trí khó tiếp cận là chọn vật liệu và lớp phủ theo tuổi thọ mong muốn của công trình, chứ không theo chu kỳ bảo trì.
Nếu công trình dự kiến hai mươi năm và vị trí không thể bảo trì, lớp mạ điện phân 8 đến 12 micromet chỉ phù hợp khi môi trường thật sự nhẹ, tức trong nhà, khô, thông thoáng. Ở mọi điều kiện khác nên cân nhắc lớp phủ dày hơn.
Giàn mái có vi khí hậu riêng
Không gian ngay dưới mái tôn nóng hơn phần còn lại của nhà xưởng đáng kể vào ban ngày, và nguội nhanh vào ban đêm. Chênh lệch này gây ngưng tụ trên bề mặt kim loại vào sáng sớm.
Nghĩa là bu lông trên giàn mái có thể ướt hằng ngày dù không bao giờ dính mưa. Với kẽm, thời gian bề mặt ẩm mới là yếu tố quyết định tốc độ tiêu hao, chứ không phải nguồn gốc của độ ẩm.
Thêm vào đó, hơi bốc lên từ quá trình sản xuất bên dưới tập trung ở khu vực này trước khi thoát ra ngoài. Nếu quá trình có hơi axit hoặc hơi muối, giàn mái là nơi chịu tác động đầu tiên.
Vì vậy đừng đánh giá môi trường giàn mái bằng cảm nhận ở tầng trệt. Nếu có thể, hãy đặt mẫu chứng ngay tại đó trong vài tháng để biết thực tế.
Bố trí để giảm nhu cầu bảo trì
Tránh đặt cụm liên kết ở mặt trên của thanh nằm ngang, nơi nước ngưng tụ chảy xuống và đọng lại. Nếu buộc phải vậy, hướng bu lông sao cho đai ốc nằm phía dưới.
Với ren lửng, phần ren nhô ra khỏi đai ốc là nơi gỉ xuất hiện sớm nhất. Nếu hướng bu lông cho phần này quay xuống dưới, nước không đọng lại trong rãnh ren được.
Sơn phủ toàn bộ cụm liên kết cùng lúc với sơn kết cấu, ngay khi giàn giáo còn dựng. Đây là thời điểm rẻ nhất để làm việc đó, và làm sau này sẽ tốn gấp nhiều lần.
Thông số cỡ 75 mm
| Chiều dài thân | 75 mm |
| Đoạn thân trơn | 33 mm |
| Chiều dài ren b | 42 mm |
| Chiều dày kẹp khuyến nghị | 33 – 52 mm |
| Mô-men khô | 360 – 420 Nm |
Câu hỏi thường gặp
Giàn mái trong nhà có cần mạ kẽm không? Nên có, vì ngưng tụ dưới mái tôn khiến bề mặt ẩm thường xuyên dù không dính mưa.
Hướng bu lông có quan trọng không? Có. Để phần ren nhô ra quay xuống dưới giúp nước không đọng trong rãnh ren.
Có nên sơn phủ cụm liên kết trên cao không? Nên, và làm ngay khi giàn giáo còn dựng vì sau này chi phí tiếp cận rất lớn.
Đưa chi phí tiếp cận vào quyết định chọn vật tư
Cách tính đơn giản mà hiệu quả: ước tính chi phí một lần tiếp cận vị trí đó để bảo trì, gồm giàn giáo hoặc xe nâng người, nhân công, và thời gian dừng hoạt động bên dưới nếu có.
Chia con số đó cho số bu lông tại vị trí, sẽ ra chi phí tiếp cận trên mỗi con. Với giàn mái cao, con số này thường lớn hơn giá bu lông nhiều lần.
Khi đã có con số, việc chọn lớp phủ đắt hơn để tránh một lần tiếp cận trở nên dễ biện minh. Ngược lại, với vị trí đứng dưới đất với tay tới được thì chọn loại kinh tế là hợp lý.
Cách tính này cũng giúp trả lời câu hỏi nên đầu tư bao nhiêu vào việc sơn phủ ngay khi giàn giáo còn dựng. Nếu chi phí sơn lúc đó chỉ bằng một phần nhỏ chi phí dựng lại giàn giáo sau này, thì nên làm.
Thiết kế để giảm nhu cầu bảo trì trên cao
Ở giai đoạn thiết kế, có mấy quyết định làm giảm hẳn nhu cầu bảo trì về sau mà gần như không tốn thêm chi phí.
Chọn lớp phủ theo tuổi thọ công trình thay vì theo chu kỳ bảo trì, cho các vị trí đã xác định là khó tiếp cận.
Bố trí liên kết sao cho không nằm ở chỗ nước đọng, và hướng bu lông để phần ren nhô ra quay xuống dưới.
Dùng ít mối ghép hơn nhưng mỗi mối lớn hơn, nếu kết cấu cho phép. Số điểm cần kiểm tra ít hơn thì công bảo trì ít hơn.
Chừa lối tiếp cận nếu có thể, ví dụ sàn thao tác hoặc điểm neo dây an toàn. Một lối tiếp cận có sẵn biến việc bảo trì từ chiến dịch thành công việc thường ngày.
Ghi rõ trên bản vẽ hoàn công những vị trí nào thuộc nhóm khó tiếp cận, để người quản lý vận hành biết mà lập kế hoạch dài hạn thay vì phát hiện khi đã có sự cố.
Sản phẩm liên quan
16.200 ₫/ Con
Số lượng đặt hàng tối thiểu: 31

Chưa có đánh giá nào.