| Hệ | Met |
|---|---|
| Size Ren | M16 |
| Chiều Dài Bulong | 85 mm |
| Vật Liệu | Thép đen 10.9 |
| Bước Ren | 2.0 mm |
| Chiều Cao Đầu | 10 mm |
| Size Khóa | 24 mm |
| Loại Ren | Ren Thô |
| Phân Bố Ren | Ren Lửng |
| Tiêu Chuẩn | DIN 931 |
| Cường Độ Chịu Tải | ISO Class 10.9 |
Bulong Lục giác thép đen 10.9 M16x85 DIN 931 – Ren lửng
Vật liệu : Thép đen 10.9
Đơn vị tính : Con ( PCS )
Hoá đơn : Có xuất hoá đơn VAT
Chất lượng : Có đầy đủ giấy tờ CO CQ
Bu lông lục giác thép đen 10.9 M16x85 DIN 931 ren lửng có 47 mm thân trơn nằm khít trong lỗ. Chữ khít đó là điều kiện, không phải mô tả: nếu lỗ khoan sai, toàn bộ ưu thế của ren lửng mất sạch và mối ghép trở về đúng bằng bản ren suốt.
Lỗ khoan bao nhiêu cho M16
| Kiểu lắp | Đường kính lỗ | Khe hở | Dùng khi |
| Lắp khít | 17 mm | 1 mm | Mối ghép chịu cắt, cần định vị |
| Lắp thường | 18 mm | 2 mm | Kết cấu thông thường |
| Lỗ ovan ngắn | 18 x 22 mm | – | Bù sai số lắp dựng một phương |
| Lỗ ovan dài | 18 x 40 mm | – | Cho phép giãn nở nhiệt |
Với mối ghép chịu cắt, khe hở càng nhỏ càng tốt. Lý do đơn giản: hai tấm phải trượt hết khe hở thì thành lỗ mới tì được vào thân bu lông. Khe 1 mm nghĩa là cụm dịch 1 mm trước khi bu lông bắt đầu làm việc; với kết cấu chính xác thì đó là dịch chuyển không chấp nhận được.
Vì sao lỗ ovan làm hỏng mối ghép chịu cắt
Lỗ ovan sinh ra để bù sai số lắp dựng, và nó rất hữu ích cho việc đó. Nhưng trong lỗ ovan, bu lông không thể tì vào thành lỗ theo phương dài, nên cơ chế tựa ép biến mất theo phương ấy. Mối ghép chỉ còn dựa vào ma sát do lực kẹp tạo ra.
Điều này không sai nếu đã thiết kế theo cơ chế ma sát và lực kẹp đủ lớn. Nhưng nếu bản vẽ tính theo tựa ép mà thi công lại khoan ovan cho dễ lắp, khả năng chịu tải thực tế thấp hơn tính toán rất nhiều. Đây là một trong những sai lệch thi công phổ biến và khó phát hiện nhất.
Khi buộc phải dùng lỗ ovan, cần bù bằng long đền bản dày trải đều áp lực, và siết đủ lực kẹp vì lúc này ma sát là cơ chế duy nhất.
Chất lượng lỗ quan trọng ngang đường kính
Lỗ đột bằng máy đột nhanh và rẻ nhưng để lại mép rách, vùng biến cứng quanh thành lỗ và độ côn theo chiều dày. Với kết cấu chịu tải lặp, tiêu chuẩn thường yêu cầu khoan hoặc đột rồi doa lại, vì mép rách là nơi khởi phát nứt.
Lỗ khoan cho thành thẳng và nhẵn hơn nhưng phải kiểm tra độ vuông góc. Lỗ nghiêng khiến bu lông bị uốn khi siết, và ứng suất uốn cộng vào ứng suất kéo làm giảm biên an toàn của cấp 10.9.
Ba via quanh miệng lỗ phải được gạt sạch. Ba via kê giữa hai tấm tạo khe hở cục bộ, khiến lực kẹp phân bố lệch và mặt tiếp xúc không đều.
Khi các lỗ trên hai tấm không trùng nhau
Cách xử lý sai phổ biến nhất là dùng đục côn đóng cho lỗ trùng. Việc này làm méo lỗ, biến cứng thành lỗ và có thể làm rách mép. Cách đúng là doa rộng lỗ bằng dụng cụ có dẫn hướng, chấp nhận khe hở lớn hơn rồi bù bằng long đền bản dày.
Nếu lệch quá nhiều, giải pháp an toàn là hàn bít lỗ cũ rồi khoan lại theo vị trí đúng, tất nhiên phải theo quy trình hàn được duyệt và kiểm tra sau hàn.
Thông số cỡ 85 mm
| Chiều dài thân | 85 mm |
| Đoạn thân trơn | 47 mm |
| Đường kính thân trơn | 16 mm |
| Lỗ khuyến nghị khi chịu cắt | 17 mm |
| Chiều dày kẹp khuyến nghị | 47 – 65 mm |
Câu hỏi thường gặp
Khoan 18 mm cho M16 có được không? Được cho kết cấu thông thường. Nhưng nếu mối ghép chịu cắt và cần định vị chính xác thì nên 17 mm.
Lỗ đột có dùng cho bu lông 10.9 được không? Với tải tĩnh thì thường chấp nhận được. Với tải lặp nên doa lại mép lỗ.
Thân trơn 47 mm có cần nằm hết trong lỗ không? Không cần hết, nhưng mặt phân cách giữa hai tấm phải nằm trong đoạn này.
Doa lỗ: khi nào cần và làm thế nào
Doa là bước gia công tinh sau khoan hoặc đột, để lỗ đạt đường kính chính xác và thành lỗ nhẵn. Với bu lông thông thường thì không cần, nhưng có ba trường hợp nên doa.
Trường hợp thứ nhất là mối ghép chịu tải lặp: mép lỗ đột có vết rách li ti, mỗi vết là một điểm khởi phát nứt. Doa bỏ đi lớp biến cứng và vết rách này.
Trường hợp thứ hai là khi cần lắp khít thật sự, khe hở dưới 0,3 mm. Khoan thường không đạt độ chính xác đó, phải khoan lỗ nhỏ hơn rồi doa lên kích thước.
Trường hợp thứ ba là khi lỗ trên nhiều tấm phải thẳng hàng: kẹp cả cụm rồi doa xuyên qua một lần, cách này cho độ đồng trục tốt hơn nhiều so với khoan từng tấm.
Lỗ trên tấm dày: độ côn và độ vuông góc
Càng khoan sâu, mũi khoan càng dễ lệch và lỗ càng côn. Trên tấm dày 40 mm trở lên, chênh lệch đường kính giữa mặt vào và mặt ra có thể tới vài phần mười milimet nếu không dùng dẫn hướng.
Hậu quả với ren lửng là thân trơn chỉ tiếp xúc với thành lỗ ở một đầu, còn đầu kia có khe hở. Khi chịu lực ngang, bu lông tì lệch và sinh ứng suất uốn thay vì chịu cắt thuần.
Cách kiểm tra đơn giản tại hiện trường: luồn một đoạn thân trơn cùng đường kính vào lỗ và xoay thử. Nếu thấy chặt một đầu và lỏng đầu kia thì lỗ bị côn. Với công trình quan trọng, nên đo bằng đồng hồ đo lỗ ở hai đầu.
Về độ vuông góc, sai lệch 1 độ trên tấm dày 40 mm làm lỗ dịch 0,7 mm giữa hai mặt. Nghe nhỏ nhưng với lắp khít khe hở 1 mm thì đã ăn hết hai phần ba dung sai.
Bu lông lắp khít: khi nào thật sự cần
Bu lông lắp khít là loại có thân trơn gia công chính xác theo dung sai chặt, lắp vào lỗ đã doa với khe hở rất nhỏ. Nó khác với DIN 931 thông thường ở chỗ thân trơn được gia công tinh chứ không để nguyên sau cán ren.
Loại này dùng khi mối ghép không được phép dịch chuyển dù rất nhỏ: bệ máy công cụ, khớp nối trục, cơ cấu định vị. Đổi lại chi phí cao hơn nhiều và lắp đặt khó hơn vì phải đóng nhẹ để đưa vào.
Với phần lớn kết cấu xây dựng và cơ khí thông thường, DIN 931 lắp vào lỗ 17 mm đã đủ. Chỉ nên chuyển sang bu lông lắp khít khi có yêu cầu cụ thể trong thiết kế, vì đây là quyết định làm tăng đáng kể chi phí gia công lỗ.
Sản phẩm liên quan
16.861 ₫/ Con
Số lượng đặt hàng tối thiểu: 100

Chưa có đánh giá nào.