| Hệ | Met |
|---|---|
| Size Ren | M18 |
| Chiều Dài Bulong | 100 mm |
| Vật Liệu | Thép đen 10.9 |
| Bước Ren | 2.5 mm |
| Chiều Cao Đầu | 11.5 mm |
| Size Khóa | 27 mm |
| Loại Ren | Ren Thô |
| Phân Bố Ren | Ren Lửng |
| Tiêu Chuẩn | DIN 931 |
| Cường Độ Chịu Tải | ISO Class 10.9 |
Bulong Lục giác thép đen 10.9 M18x100 DIN 931 – Ren lửng
Vật liệu : Thép đen 10.9
Đơn vị tính : Con ( PCS )
Hoá đơn : Có xuất hoá đơn VAT
Chất lượng : Có đầy đủ giấy tờ CO CQ
Bu lông lục giác thép đen 10.9 M18x100 DIN 931 ren lửng tạo lực kẹp 130 đến 155 kN. Trong mối ghép ma sát, lực kẹp đó chỉ có giá trị khi bề mặt hai tấm đủ nhám để giữ nhau. Xử lý bề mặt vì thế quan trọng ngang việc siết đúng.
Hệ số ma sát của các loại bề mặt
| Tình trạng bề mặt | Hệ số ma sát tham khảo |
| Phun bi hoặc phun cát, sạch | khoảng 0,4 – 0,5 |
| Phun bi rồi phủ kẽm nhôm | khoảng 0,4 |
| Làm sạch bằng bàn chải sắt | khoảng 0,3 |
| Thép cán nguyên, gỉ nhẹ | khoảng 0,2 |
| Sơn thông thường | có thể dưới 0,1 |
Các giá trị là khoảng tham khảo chung; tiêu chuẩn thiết kế áp dụng cho công trình sẽ quy định con số cụ thể được phép dùng trong tính toán.
Điều cần đọc ra từ bảng: chênh lệch giữa bề mặt tốt nhất và bề mặt sơn có thể tới bốn năm lần. Nghĩa là cùng một cụm bu lông siết đúng, chỉ khác nhau ở khâu xử lý bề mặt, khả năng chống trượt có thể chênh nhau vài lần.
Vì sao không được sơn vùng liên kết trước khi lắp
Đây là lỗi thi công phổ biến và tốn kém. Đội sơn muốn sơn toàn bộ cấu kiện cho nhanh và đều, trong đó có cả vùng sẽ ghép. Đội lắp dựng sau đó bắt bu lông lên bề mặt đã sơn.
Hậu quả có hai lớp. Lớp thứ nhất là hệ số ma sát tụt xuống thấp hơn nhiều so với giá trị dùng trong tính toán, nên khả năng chống trượt thực tế không đạt thiết kế.
Lớp thứ hai là lún. Màng sơn dày chịu áp suất tiếp xúc rất cao dưới lực kẹp sẽ lún dần trong vài giờ tới vài ngày, và lực kẹp mất theo mà không ai biết vì cờ lực đã cất đi từ lâu.
Cách làm đúng là che vùng liên kết khi sơn, hoặc cạo sạch trước khi lắp, rồi sơn phủ hoàn thiện sau khi siết xong.
Làm sạch tới mức nào là đủ
Yêu cầu tối thiểu là loại bỏ dầu mỡ, bụi, gỉ bong và sơn. Lớp gỉ bám chắc, mỏng, không bong khi cạo bằng dao thì nhiều tiêu chuẩn cho phép giữ lại, thậm chí còn cho ma sát tốt hơn bề mặt nhẵn.
Điều quan trọng là bề mặt phải khô và sạch dầu. Dầu mỡ là thứ làm giảm ma sát mạnh nhất và cũng khó nhận ra nhất bằng mắt.
Sau khi làm sạch, không nên để quá lâu trước khi lắp, nhất là ngoài trời. Bề mặt vừa phun bi rất hoạt tính và sẽ gỉ lại nhanh. Nếu phải chờ, cần che chắn hoặc phủ lớp bảo vệ tạm được phép theo chỉ dẫn kỹ thuật.
Thông số cỡ 100 mm
| Chiều dài thân | 100 mm |
| Đoạn thân trơn | 58 mm |
| Chiều dài ren b | 42 mm |
| Lực kẹp | 130 – 155 kN |
| Chiều dày kẹp khuyến nghị | 58 – 77 mm |
Câu hỏi thường gặp
Gỉ nhẹ trên bề mặt có phải làm sạch hết không? Gỉ bám chắc thường được phép giữ và còn cho ma sát tốt. Gỉ bong thì phải loại bỏ.
Sơn rồi mới phát hiện thì xử lý sao? Phải cạo sạch vùng liên kết trước khi lắp. Không có cách bù nào khác đáng tin.
Vùng liên kết có được mạ kẽm không? Được, nhưng hệ số ma sát khác với bề mặt phun bi và phải dùng đúng giá trị trong tính toán.
Nghiệm thu bề mặt trước khi lắp
Nếu mối ghép thiết kế theo cơ chế ma sát, bề mặt là một hạng mục cần nghiệm thu chứ không phải chi tiết thi công. Bốn điểm nên kiểm.
Không còn dầu mỡ. Cách kiểm đơn giản là nhỏ vài giọt nước lên bề mặt: nước loang đều là sạch, nước tụ thành giọt tròn là còn dầu.
Không còn sơn, kể cả sơn lót. Nếu vùng liên kết đã lỡ sơn thì phải cạo sạch, không có cách bù nào khác.
Không còn gỉ bong, vảy cán bong. Gỉ bám chắc thường được phép giữ và còn cho ma sát tốt, nhưng lớp bong thì phải loại bỏ vì nó sẽ tách ra dưới lực kẹp.
Bề mặt khô. Lắp lên bề mặt còn ẩm sẽ nhốt nước vào khe giữa hai tấm, và khe đó rất lâu mới khô.
Nên chụp ảnh bề mặt trước khi ghép và lưu vào hồ sơ. Sau khi hai tấm đã ép vào nhau thì không còn cách nào kiểm tra lại.
Khi bề mặt liên kết đã mạ kẽm
Kết cấu mạ kẽm nhúng nóng đặt ra một tình huống riêng: bề mặt kẽm có hệ số ma sát khác hẳn thép phun bi, thường thấp hơn đáng kể, và giá trị dùng trong tính toán phải theo đúng loại bề mặt.
Thêm một hiện tượng cần biết: lớp kẽm mềm nên bị ép lún dưới lực kẹp lớn, và quá trình lún kéo dài nhiều giờ tới nhiều ngày. Lực kẹp giảm theo. Với mối ghép ma sát trên kết cấu mạ kẽm, lượt siết lại sau vài ngày gần như là bắt buộc.
Một số tiêu chuẩn cho phép làm nhám bề mặt kẽm bằng bàn chải sợi phi kim để tăng ma sát. Cách này cải thiện hệ số ma sát nhưng làm mỏng lớp bảo vệ, nên phải cân nhắc theo yêu cầu cụ thể của công trình.
Nếu thiết kế yêu cầu hệ số ma sát cao mà kết cấu lại mạ kẽm, hãy trao đổi với bộ phận thiết kế từ sớm thay vì xử lý tại hiện trường.
Sản phẩm liên quan
21.850 ₫/ Con
Số lượng đặt hàng tối thiểu: 50

Chưa có đánh giá nào.