Bài viết Kỹ thuật By Kỹ Thuật Công Nghiệp Ánh Dương

Bài viết Kỹ thuật By Kỹ Thuật Công Nghiệp Ánh Dương

Chọn Bộ Lọc Khí Nén: Hướng Dẫn Kỹ Thuật Chuyên Sâu

Khí nén thô chứa bụi, nước và dầu; bộ lọc làm sạch khí để bảo vệ thiết bị và chất lượng sản phẩm. Trong bài này bạn sẽ tìm hiểu:

  • Các cấp lọc: lọc thô, tách nước, lọc tinh coalescing và than hoạt tính
  • Nguyên lý gộp giọt và chất lượng khí theo ISO 8573-1
  • Chọn cấp lọc micron và cỡ lọc theo lưu lượng, tổn thất áp
  • Bố trí chuỗi lọc, thay lõi theo chênh áp và ví dụ thực tế

Và còn nhiều hơn thế nữa…

Chọn bộ lọc khí nén

Khí nén ngay sau khi ra khỏi máy nén không hề sạch: nó mang theo bụi hút từ không khí, hơi nước ngưng tụ, dầu bôi trơn từ máy nén và nhiều tạp chất li ti khác. Nếu đưa thẳng khí này tới thiết bị, tạp chất sẽ làm mòn van, kẹt xy lanh, hỏng dụng cụ, làm bẩn sản phẩm và gây sự cố khó lường. Bộ lọc khí nén chính là thiết bị làm sạch khí, loại bỏ tuần tự các tạp chất để đạt chất lượng khí phù hợp với từng ứng dụng. Chọn đúng cấp lọc và cỡ lọc giúp khí đủ sạch mà không gây tổn thất áp quá lớn; chọn sai khiến khí bẩn lọt qua hoặc tốn điện vô ích. Bài viết này trình bày quy trình kỹ thuật để chọn bộ lọc khí nén, gồm các loại lọc, cấp lọc theo micron và tiêu chuẩn, cách bố trí chuỗi lọc và ví dụ thực tế, tiếp nối loạt bài về hệ thống khí nén.

Khí nén ra khỏi máy chứa bụi, hơi nước, dầu và tạp chất; bộ lọc loại bỏ chúng để cấp khí sạch cho thiết bị.
Khí nén ra khỏi máy chứa bụi, hơi nước, dầu và tạp chất; bộ lọc loại bỏ chúng để cấp khí sạch cho thiết bị.

Vì sao khí nén cần được lọc

Không khí xung quanh chứa hàng triệu hạt bụi trong mỗi mét khối, cùng hơi nước và các tạp chất khác. Khi máy nén hút và nén không khí này, tất cả tạp chất đều bị nén lại và cô đặc trong khí nén, cộng thêm dầu bôi trơn của máy nén và các hạt mài mòn kim loại. Kết quả là khí nén thô rất bẩn so với yêu cầu của hầu hết thiết bị khí nén, và nếu không lọc, các tạp chất này sẽ đi thẳng tới điểm dùng gây hại.

Tác hại của khí bẩn rất đa dạng. Bụi và hạt rắn làm mòn bề mặt van và xy lanh, gây rò rỉ và kẹt. Nước gây gỉ sét, làm hỏng dầu bôi trơn và đóng băng ở những nơi giãn nở nhanh. Dầu từ máy nén làm bẩn sản phẩm trong các ngành yêu cầu khí sạch như thực phẩm, dược phẩm, sơn và điện tử. Vì vậy lọc khí không chỉ để bảo vệ thiết bị mà còn để đảm bảo chất lượng sản phẩm và an toàn cho quá trình sản xuất.

Bộ lọc khí nén là gì và vai trò

Bộ lọc khí nén là thiết bị lắp trên đường ống, có nhiệm vụ giữ lại các tạp chất trong khí nén khi khí đi qua. Cấu tạo cơ bản gồm một vỏ chịu áp, một lõi lọc bên trong, một cốc chứa để hứng nước và cặn tách ra, và một van xả ở đáy. Khí bẩn đi vào, xuyên qua lõi lọc để lại tạp chất trên lõi hoặc trong cốc, rồi đi ra sạch hơn. Nhiều bộ lọc còn có chỉ báo chênh áp cho biết khi nào lõi bám bẩn cần thay.

Bộ lọc gồm vỏ, lõi lọc, cốc chứa nước ở đáy, van xả và chỉ báo chênh áp; khí đi từ ngoài vào qua lõi rồi ra sạch.
Bộ lọc gồm vỏ, lõi lọc, cốc chứa nước ở đáy, van xả và chỉ báo chênh áp; khí đi từ ngoài vào qua lõi rồi ra sạch.

Vai trò của bộ lọc thay đổi theo loại và vị trí. Có bộ lọc chỉ tách bụi và nước lỏng, có bộ lọc tinh tách cả sương dầu li ti, và có bộ lọc than hoạt tính khử hơi dầu và mùi. Trong một hệ thống hoàn chỉnh, các bộ lọc được bố trí nối tiếp thành chuỗi, mỗi cấp làm một nhiệm vụ, để dần dần nâng chất lượng khí lên mức mong muốn. Hiểu rõ từng loại lọc làm gì là cơ sở để chọn và sắp xếp đúng.

Các cấp lọc trong hệ thống

Một chuỗi lọc khí nén điển hình gồm nhiều cấp nối tiếp. Cấp đầu là lọc thô, thường 5 micron, giữ lại bụi và hạt lớn để bảo vệ các cấp sau. Tiếp theo có thể là bộ tách nước, dùng lực ly tâm hoặc cơ cấu tách để loại nước lỏng. Cấp lọc tinh, thường 0,01 micron, là bộ lọc coalescing tách sương dầu và hạt cực mịn. Cuối cùng, khi cần khí không mùi và không dầu, dùng bộ lọc than hoạt tính để hấp thụ hơi dầu và mùi còn sót lại.

Hệ thống thường dùng chuỗi lọc: lọc thô, tách nước, lọc tinh tách sương dầu và than hoạt tính khử hơi dầu, mùi.
Hệ thống thường dùng chuỗi lọc: lọc thô, tách nước, lọc tinh tách sương dầu và than hoạt tính khử hơi dầu, mùi.

Thứ tự bố trí rất quan trọng: khí phải đi từ cấp thô tới cấp tinh, không được ngược lại. Lý do là lọc thô giữ phần lớn bụi và hạt lớn, nhờ đó lọc tinh không bị tắc nhanh và kéo dài tuổi thọ. Nếu đặt lọc tinh trước, nó sẽ phải gánh toàn bộ tạp chất và tắc rất nhanh, vừa tốn kém vừa gây tổn thất áp lớn. Ngoài ra, than hoạt tính phải đặt sau cùng vì nó chỉ hiệu quả khi khí đã tương đối sạch dầu lỏng, nếu không lớp than sẽ bão hòa nhanh và mất tác dụng.

Nguyên lý lọc tinh coalescing

Lọc tinh, hay lọc coalescing, là cấp lọc quan trọng nhất để tách sương dầu và hạt cực mịn mà lọc thô không giữ được. Nguyên lý của nó dựa trên hiện tượng gộp giọt. Lõi lọc được làm từ nhiều lớp sợi rất mịn; khi khí mang sương dầu li ti đi qua, các hạt sương va chạm và bám vào sợi lọc. Nhờ tiếp tục bám và gộp lại, các hạt li ti dần tạo thành giọt lớn hơn.

Lọc tinh coalescing giữ các hạt sương dầu li ti trên sợi lọc, gộp chúng thành giọt lớn để rơi xuống và xả ra.
Lọc tinh coalescing giữ các hạt sương dầu li ti trên sợi lọc, gộp chúng thành giọt lớn để rơi xuống và xả ra.

Khi giọt đủ lớn, trọng lực thắng lực dòng khí và giọt rơi xuống đáy lõi rồi chảy vào cốc chứa để xả ra. Nhờ cơ chế này, lọc coalescing có thể tách được sương dầu tới mức rất thấp, đạt tiêu chuẩn khí sạch cho nhiều ứng dụng. Điểm cần lưu ý là lọc coalescing hoạt động tốt nhất khi khí đã được tách nước lỏng và bụi lớn từ trước; nếu quá tải nước hoặc bụi, hiệu quả giảm và tổn thất áp tăng. Đây là lý do lọc coalescing luôn đứng sau lọc thô và tách nước trong chuỗi.

Chất lượng khí theo tiêu chuẩn ISO 8573-1

Để chọn cấp lọc phù hợp, cần biết chất lượng khí mà ứng dụng yêu cầu. Tiêu chuẩn quốc tế ISO 8573-1 phân loại chất lượng khí nén theo ba nhóm tạp chất: hạt rắn, nước và dầu, mỗi nhóm chia thành các cấp độ sạch từ thấp đến cao. Ví dụ, cấp hạt và cấp nước được đánh số từ 1 tới nhiều bậc, cấp càng nhỏ thì càng sạch; cấp dầu thường từ 1 tới 4, với cấp 1 cho hàm lượng dầu rất thấp.

Tiêu chuẩn ISO 8573-1 phân loại chất lượng khí theo hạt bụi, nước và dầu; chọn bộ lọc theo class mục tiêu.
Tiêu chuẩn ISO 8573-1 phân loại chất lượng khí theo hạt bụi, nước và dầu; chọn bộ lọc theo class mục tiêu.

Cách dùng tiêu chuẩn này là xác định trước ứng dụng cần đạt class nào cho bụi, nước và dầu, rồi chọn tổ hợp bộ lọc và máy sấy để đạt các class đó. Một xưởng cơ khí thông thường chỉ cần khí sạch vừa phải, trong khi ngành thực phẩm, dược phẩm hay điện tử đòi hỏi khí rất sạch, thậm chí vô trùng. Việc quy chiếu theo ISO 8573-1 giúp trao đổi yêu cầu rõ ràng với nhà cung cấp và chọn thiết bị đúng, tránh tình trạng lọc thừa gây lãng phí hoặc lọc thiếu gây hại.

Cấp lọc theo micron và cách chọn

Cấp lọc micron cho biết kích thước hạt nhỏ nhất mà lõi lọc có thể giữ lại. Lọc thô thường 5 micron, giữ bụi và hạt lớn; lọc tầm trung khoảng 1 micron giữ hạt mịn và sương; lọc tinh coalescing tới 0,01 micron giữ cả sương dầu cực nhỏ. Số micron càng nhỏ thì khí càng sạch, nhưng đồng thời tổn thất áp qua lõi càng lớn và giá lõi càng cao, nên không nên chọn cấp lọc mịn hơn mức ứng dụng cần.

Cấp lọc micron cho biết kích thước hạt nhỏ nhất mà lõi giữ lại; càng nhỏ càng sạch nhưng tổn thất áp và giá cao hơn.
Cấp lọc micron cho biết kích thước hạt nhỏ nhất mà lõi giữ lại; càng nhỏ càng sạch nhưng tổn thất áp và giá cao hơn.

Khi chọn cấp lọc, nguyên tắc là chọn vừa đủ sạch cho ứng dụng, không thừa không thiếu. Một sai lầm phổ biến là dùng lọc quá mịn ở mọi nơi, khiến tổn thất áp tăng và chi phí thay lõi cao mà không cần thiết. Ngược lại, dùng lọc quá thô cho ứng dụng cần khí sạch sẽ để tạp chất lọt qua gây hại. Cách làm đúng là xác định yêu cầu chất lượng khí của từng nhánh hoặc từng điểm dùng, rồi bố trí cấp lọc phù hợp cho nhánh đó, thay vì áp dụng một mức chung cho toàn hệ thống.

Chọn cỡ lọc theo lưu lượng và tổn thất áp

Ngoài cấp lọc, cỡ bộ lọc phải chọn theo lưu lượng khí đi qua. Mỗi bộ lọc có một lưu lượng định mức; nếu khí thực tế vượt quá, vận tốc qua lõi tăng, tổn thất áp lớn và hiệu quả lọc giảm. Vì vậy nên chọn bộ lọc có lưu lượng định mức bằng hoặc lớn hơn lưu lượng thực tế, với một hệ số dự phòng. Chọn cỡ rộng rãi hơn một chút vừa giảm tổn thất áp vừa kéo dài thời gian giữa các lần thay lõi.

Tổn thất áp qua bộ lọc là một khoản chi phí điện thường trực, tương tự như đường ống. Một lõi lọc sạch gây tổn thất nhỏ, nhưng khi bám bẩn dần thì tổn thất tăng lên. Vì vậy cần cân bằng giữa độ sạch và tổn thất áp: chọn cấp lọc vừa đủ, cỡ lọc rộng rãi, và thay lõi đúng lúc. Với hệ thống lớn chạy liên tục, khoản tiết kiệm điện nhờ giữ tổn thất áp thấp trên bộ lọc là đáng kể trong cả năm vận hành.

Lõi lọc bám bẩn theo thời gian làm chênh áp tăng dần; nên thay lõi khi Δp vượt ngưỡng để giảm tổn thất áp và điện.
Lõi lọc bám bẩn theo thời gian làm chênh áp tăng dần; nên thay lõi khi Δp vượt ngưỡng để giảm tổn thất áp và điện.

Chỉ báo chênh áp trên bộ lọc giúp biết khi nào lõi cần thay. Khi lõi mới, chênh áp thấp; theo thời gian bám bẩn, chênh áp tăng dần. Khi vượt ngưỡng khuyến nghị của nhà sản xuất, nên thay lõi để tránh tổn thất áp quá lớn và nguy cơ khí bẩn xé qua lõi. Thay lõi theo chênh áp là cách hợp lý hơn thay theo thời gian cố định, vì nó phản ánh đúng mức độ bẩn thực tế.

Ví dụ chọn bộ lọc cho hệ 8,5 m³/phút

Xét hệ thống với máy nén 8,5 m³/phút cấp khí cho xưởng cơ khí kèm một vài điểm cần khí sạch hơn. Đường trục chính nên có một bộ lọc thô 5 micron ngay sau bình tích áp để giữ bụi và hạt lớn, bảo vệ máy sấy và các lọc sau. Sau máy sấy, bố trí một bộ lọc tinh coalescing 0,01 micron để tách sương dầu, cấp khí sạch cho toàn hệ. Các bộ lọc này chọn cỡ có lưu lượng định mức từ 8,5 m³/phút trở lên để tổn thất áp thấp.

Hệ 8,5 m³/phút nên dùng chuỗi lọc thô 5 µm, lọc tinh 0,01 µm và than hoạt tính, chọn cỡ đủ lưu lượng để Δp thấp.
Hệ 8,5 m³/phút nên dùng chuỗi lọc thô 5 µm, lọc tinh 0,01 µm và than hoạt tính, chọn cỡ đủ lưu lượng để Δp thấp.

Tại các điểm dùng đặc biệt cần khí không mùi và không dầu, ví dụ khu vực sơn hoặc đóng gói thực phẩm, bổ sung thêm một bộ lọc than hoạt tính đặt riêng cho nhánh đó, sau lọc coalescing. Cách bố trí này vừa đảm bảo toàn hệ có khí sạch cơ bản, vừa cấp khí rất sạch cho nơi cần, mà không phải lọc quá mức cho toàn bộ. Tất cả bộ lọc nên có van xả nước đáy và chỉ báo chênh áp, đồng thời được đặt sao cho dễ thay lõi và bảo trì.

Bộ lọc điều áp bôi trơn tại điểm dùng

Ở nhiều điểm dùng, người ta lắp một cụm ba thiết bị gọi tắt là bộ lọc điều áp bôi trơn, gồm bộ lọc, van điều áp và bộ tra dầu. Bộ lọc ở đây làm nhiệm vụ lọc lần cuối ngay trước thiết bị, giữ lại tạp chất còn sót và nước ngưng phát sinh trên đường tới điểm dùng. Van điều áp đặt áp phù hợp cho thiết bị, còn bộ tra dầu cấp một lượng dầu bôi trơn cho các dụng cụ khí cần bôi trơn.

Cụm này rất tiện cho các trạm làm việc dùng dụng cụ khí như súng bắn vít, súng phun hay xy lanh. Cần lưu ý rằng bộ tra dầu chỉ dùng cho thiết bị cần dầu bôi trơn; với những nơi yêu cầu khí sạch không dầu thì không dùng bộ tra dầu, và bộ lọc điểm dùng nên là loại tinh. Lắp bộ lọc điểm dùng bổ sung cho các cấp lọc trung tâm giúp đảm bảo khí tới tận thiết bị luôn đạt chất lượng, vì khí có thể nhiễm bẩn hoặc ngưng nước thêm trên đoạn ống cuối.

Vị trí lắp bộ lọc trong hệ thống

Vị trí lắp bộ lọc ảnh hưởng đến hiệu quả và tuổi thọ của cả chuỗi lọc. Lọc thô nên đặt ngay sau bình tích áp, trước máy sấy, để giữ bụi và hạt lớn cùng bảo vệ máy sấy khỏi bẩn. Bộ tách nước thường đi kèm hoặc đứng ngay sau lọc thô để loại nước lỏng. Lọc tinh coalescing nên đặt sau máy sấy, nơi khí đã khô và tương đối sạch, để tách sương dầu hiệu quả mà không bị quá tải nước. Than hoạt tính đặt sau cùng, chỉ trên các nhánh cần khí không mùi và không dầu.

Với hệ thống có nhiều mức yêu cầu chất lượng khác nhau, không nên lọc toàn bộ ở mức cao nhất mà nên phân cấp theo nhánh. Đường trục chính đạt độ sạch cơ bản, còn các nhánh đặc biệt được bổ sung lọc tinh và than hoạt tính riêng. Cách phân cấp này tiết kiệm chi phí lõi lọc và giảm tổn thất áp trên toàn hệ, đồng thời vẫn đảm bảo mỗi khu vực nhận đúng chất lượng khí cần thiết. Mỗi bộ lọc cũng nên đặt ở nơi dễ tiếp cận để thay lõi và xả nước thuận tiện.

Bảo trì và thay lõi lọc

Lõi lọc là vật tư tiêu hao, bám bẩn dần và cần thay định kỳ. Cách tốt nhất để quyết định thời điểm thay là theo dõi chênh áp qua bộ lọc: khi chênh áp vượt ngưỡng khuyến nghị, lõi đã bẩn nhiều và gây tổn thất áp lớn, nên thay ngay. Thay theo chênh áp hợp lý hơn thay theo lịch cố định vì phản ánh đúng mức độ bẩn thực tế, tránh vừa lãng phí lõi còn tốt vừa để lõi quá bẩn gây tốn điện.

Bên cạnh thay lõi, cần xả nước ở cốc chứa đều đặn, tốt nhất là gắn bộ xả tự động cho các bộ lọc trung tâm để nước không dâng ngược vào lõi. Với lọc than hoạt tính, lớp than bão hòa theo thời gian và không thể nhìn thấy bằng chênh áp, nên phải thay theo khuyến nghị thời gian của nhà sản xuất. Ghi lại lịch sử thay lõi và chênh áp giúp lập kế hoạch bảo trì chủ động, giữ chất lượng khí ổn định và chi phí vận hành thấp.

Sai lầm thường gặp và checklist chọn lọc

Những sai lầm phổ biến khi chọn bộ lọc khí nén gồm: chọn bộ lọc quá nhỏ so với lưu lượng khiến tổn thất áp lớn và hiệu quả kém; không đặt lọc thô trước nên lọc tinh tắc nhanh; bỏ than hoạt tính ở nơi cần khí không mùi, không dầu; và quên thay lõi định kỳ theo chênh áp khiến tổn thất áp tăng dần. Ngoài ra còn có việc dùng lọc quá mịn ở mọi nơi gây lãng phí, hoặc quên van xả nước ở đáy lọc.

Bốn sai lầm thường gặp khiến khí không đủ sạch, tổn thất áp cao hoặc lõi lọc nhanh hỏng.
Bốn sai lầm thường gặp khiến khí không đủ sạch, tổn thất áp cao hoặc lõi lọc nhanh hỏng.

Một quy trình chọn bộ lọc bài bản nên gồm: xác định chất lượng khí cần đạt cho từng nhánh theo ISO 8573-1; chọn chuỗi lọc phù hợp gồm lọc thô, tách nước, lọc tinh coalescing và than hoạt tính khi cần; sắp xếp đúng thứ tự từ thô đến tinh; chọn cỡ lọc có lưu lượng bằng hoặc lớn hơn thực tế để tổn thất áp thấp; bố trí van xả nước và chỉ báo chênh áp; và lên kế hoạch thay lõi theo chênh áp. Kết hợp bài này với các bài về máy nén, máy sấy, bình tích áp, ống, đồng hồ áp suất và bộ xả nước sẽ cho bạn một hệ thống khí nén được thiết kế trọn vẹn, sạch và tiết kiệm. Bạn có thể tham khảo thêm về khí nén để hiểu thêm nền tảng kỹ thuật.